Nâng cao chất lượng xét xử, gắn kết quả công tác với trách nhiệm người đứng đầu

Tòa án nhân dân tối cao ban hành Kế hoạch số 614/KH-TANDTC ngày 30/9/2026 triển khai thực hiện Nghị quyết số 34/2026/QH16 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án. Kế hoạch cụ thể hóa các yêu cầu của Quốc hội thành chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp, gắn chất lượng giải quyết, xét xử với kỷ luật công vụ, trách nhiệm người đứng đầu và đổi mới phương thức quản lý trên nền tảng dữ liệu.

Nâng cao chất lượng hoạt động của Tòa án đòi hỏi sự thống nhất giữa tiến độ giải quyết vụ việc, tính đúng đắn của phán quyết và khả năng thi hành trên thực tế. Tinh thần này được thể hiện xuyên suốt trong Kế hoạch số 614/KH-TANDTC: mỗi nhiệm vụ phải được xác định rõ đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, kết quả, tiến độ và trách nhiệm thực hiện; mỗi chỉ tiêu phải được theo dõi, kiểm tra, đánh giá thường xuyên. Kết quả thực hiện Nghị quyết là căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu Tòa án, đơn vị.

Bảo đảm tiến độ đi đôi với chất lượng xét xử

Kế hoạch đặt ra yêu cầu bảo đảm việc giải quyết, xét xử vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính đúng thời hạn theo quy định của pháp luật đạt 100%; không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm; không để xảy ra trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung trái quy định. Tổng số bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan không vượt quá 1,5% tổng số bản án, quyết định mà Tòa án đã giải quyết trong phạm vi các loại án, việc được Kế hoạch xác định. Đồng thời, bảo đảm ra quyết định thi hành án hình sự đúng thời hạn đạt 100% và 100% kiến nghị của Viện kiểm sát được trả lời, xử lý đúng quy định pháp luật.

Để thực hiện các yêu cầu này, các đơn vị, Tòa án phải định kỳ hằng tháng, hằng quý rà soát, quản lý chặt chẽ tiến độ giải quyết án; chủ động xây dựng phương án xử lý đối với vụ việc sắp hết thời hạn, phức tạp, kéo dài hoặc có nguy cơ quá hạn. Việc kiểm soát tiến độ vì vậy cần bắt đầu ngay trong quá trình thụ lý, giải quyết, kịp thời nhận diện vướng mắc và xác định biện pháp tháo gỡ. Cách tổ chức này có ý nghĩa thiết thực đối với việc hạn chế chậm trễ, tránh để những khó khăn trong từng hồ sơ tích tụ thành tồn đọng kéo dài.

Cùng với tiến độ, Kế hoạch chú trọng nâng cao chất lượng xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế, các vụ việc liên quan đến kinh tế số, thương mại điện tử, sở hữu trí tuệ và những loại án phức tạp. Các yêu cầu bảo đảm tranh tụng, nâng cao chất lượng điều hành phiên tòa, tăng cường hòa giải, đối thoại được triển khai đồng bộ. Đối với án tham nhũng, kinh tế, việc nâng cao hiệu quả thu hồi tiền, tài sản được gắn với xem xét, quyết định đúng các vấn đề về trách nhiệm dân sự, vật chứng, tài sản và biện pháp bảo đảm trong giai đoạn xét xử.

Một điểm đáng chú ý là yêu cầu xây dựng Bộ chỉ tiêu công tác hằng năm, trong đó xác định cụ thể nội dung, phạm vi, phương pháp tính, cách thức thống kê và đánh giá từng chỉ tiêu; làm rõ nội hàm các chỉ tiêu định tính để thống nhất thực hiện. Việc giao chỉ tiêu phải tính đến số lượng, kết quả giải quyết án, biên chế Thẩm phán, cơ cấu, tính chất các loại vụ án và đặc điểm địa bàn. Đây là cơ sở để nhiệm vụ được giao phù hợp với thực tiễn, đồng thời bảo đảm yêu cầu nâng cao kết quả công tác qua từng năm.

Nâng cao chất lượng giải quyết đơn và tính khả thi của phán quyết

Đối với công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, Kế hoạch yêu cầu tăng cả số lượng và chất lượng, bảo đảm việc giải quyết đúng thời hạn, có căn cứ, đúng pháp luật. Các đơn vị phải thụ lý kịp thời, định kỳ hằng tháng rà soát, phân loại đơn; xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ, cảnh báo sớm đối với đơn sắp hết thời hạn kháng nghị; tập trung ưu tiên nghiên cứu, giải quyết các vụ việc phức tạp, kéo dài hoặc được dư luận xã hội quan tâm.

Đặc biệt, Kế hoạch đặt ra yêu cầu khắc phục việc trả lời đơn không có căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm nhưng sau đó người có thẩm quyền lại kháng nghị. Yêu cầu này hướng trực tiếp vào chất lượng nghiên cứu hồ sơ, đề xuất và trả lời đơn. Mỗi kết luận cần được hình thành trên cơ sở xem xét kỹ lưỡng tài liệu, chứng cứ, nội dung đề nghị và căn cứ pháp luật, bảo đảm sức thuyết phục của việc giải quyết. Đồng thời, việc kháng nghị khi có căn cứ phải được cân nhắc thận trọng nhằm khắc phục kịp thời sai lầm, vi phạm, bảo đảm tính khả thi và không làm phức tạp các mối quan hệ đã ổn định.

Chất lượng xét xử còn được thể hiện ở nội dung bản án, quyết định và khả năng thi hành. Kế hoạch yêu cầu bảo đảm phán quyết được ban hành rõ ràng, đầy đủ, có căn cứ pháp luật và có khả năng thi hành; định kỳ hằng quý rà soát các bản án, quyết định bị hủy, sửa, tuyên không rõ, khó thi hành để xác định nguyên nhân, trách nhiệm và khắc phục sai sót. Sự phối hợp giữa Tòa án với cơ quan thi hành án và các cơ quan liên quan cũng được tăng cường để xử lý những khó khăn phát sinh.

Đây là yêu cầu có ý nghĩa sâu sắc đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Một phán quyết chỉ có thể phát huy đầy đủ giá trị khi nội dung được xác định rõ, tạo cơ sở cho việc thi hành trên thực tế. Bởi vậy, rà soát những bản án khó thi hành cũng là cách nhìn lại chất lượng xét xử từ kết quả thực hiện phán quyết, qua đó nhận diện những hạn chế cần khắc phục ngay từ quá trình giải quyết vụ án.

Gắn trách nhiệm công vụ với quản lý bằng dữ liệu

Kế hoạch xác định tăng cường kiểm tra, giám đốc xét xử và tổng kết thực tiễn là giải pháp thường xuyên. Hoạt động kiểm tra tập trung vào các đơn vị có tỷ lệ án bị hủy, sửa cao, án quá hạn hoặc có sai sót nghiêm trọng; kết hợp với nghiên cứu, đề xuất giải pháp bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và giải đáp nghiệp vụ. Việc công khai bản án, quyết định có hiệu lực theo quy định tiếp tục được triển khai, góp phần tăng tính minh bạch trong hoạt động xét xử.

Trách nhiệm thực hiện được cụ thể hóa thông qua yêu cầu hằng quý gắn kết quả các chỉ tiêu với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, người đứng đầu, Thẩm phán và công chức có liên quan. Các trường hợp thiếu trách nhiệm, vi phạm pháp luật hoặc để xảy ra sai sót nghiêm trọng do nguyên nhân chủ quan phải được xử lý nghiêm. Cùng với đó là đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, chú trọng các lĩnh vực pháp luật mới, án phức tạp, công nghệ cao, sở hữu trí tuệ và vụ án có yếu tố nước ngoài. Việc tăng cường kỷ cương được triển khai song hành với nâng cao năng lực và bảo đảm điều kiện thực hiện nhiệm vụ.

Trong đổi mới phương thức quản lý, Kế hoạch yêu cầu hoàn thiện, vận hành thống nhất Nền tảng quản lý án toàn trình; tích hợp chức năng tổng hợp, thống kê, cảnh báo sớm đối với vụ việc sắp hết thời hạn giải quyết, đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm sắp hết thời hạn kháng nghị, thời hạn ra quyết định thi hành án hình sự và các chỉ tiêu có nguy cơ không đạt. Số liệu phải đầy đủ, chính xác, thống nhất theo thời gian thực, phục vụ trực tiếp việc chỉ đạo, điều hành, kiểm tra và đánh giá kết quả.

Giá trị của chuyển đổi số trong công tác Tòa án được thể hiện cụ thể ở khả năng phát hiện sớm nguy cơ chậm trễ, theo dõi nguyên nhân án bị hủy, sửa và hỗ trợ xác định trách nhiệm. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan liên quan phải đi đôi với bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ bí mật nhà nước và dữ liệu tư pháp.

Với việc phân công nhiệm vụ cụ thể, gắn trách nhiệm tổ chức thực hiện với bảo đảm nhân lực, kinh phí và hạ tầng, Kế hoạch số 614/KH-TANDTC tạo cơ sở để triển khai đồng bộ các yêu cầu của Quốc hội trong toàn ngành Tòa án. Hiệu quả thực hiện cần được thể hiện trong từng vụ việc được giải quyết đúng hạn, từng phán quyết có căn cứ và có khả năng thi hành, từng đơn đề nghị được xem xét thận trọng, đúng pháp luật. 

HÀ CHI

Toàn văn Kế hoạch xem tại:

 https://www.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tatc/chi-tiet-chi-dao-dieu-hanh?dDocName=TAND383905