Án lệ của nước Anh

Bài viết nghiên cứu, phân tích làm rõ một số vấn đề cơ bản về án lệ của nước Anh như: học thuyết về án lệ, án lệ như là một nguồn của pháp luật và cách thức trong áp dụng án lệ.

1. Học thuyết về án lệ ở Anh

Với truyền thống tuân theo các quyết định của các vụ án đã xét xử, các Thẩm phán và các Luật sư ở Anh đã hình thành nên hệ thống các quy tắc được gọi là học thuyết về án lệ của nước Anh. Học thuyết này bao gồm hai yếu tố cơ bản.

1.1. Yếu tố thứ nhất là phân biệt rõ phần nguyên tắc pháp lý (thuật ngữ la tinh là ratio decidendi) với phần luận cứ phụ (thuật ngữ la tinh là obiter dicta), trong đó chỉ phần nguyên tắc pháp lý mới có giá trị ràng buộc. Cấu trúc một bản án điển hình ở Anh bao gồm phần xem xét tình tiết của vụ án và lập luận của các bên và phần nhận định về pháp luật của Thẩm phán. Trong những nhận định này, chỉ có những nhận định cơ bản mà Thẩm phán cho rằng cần thiết để đưa ra quyết định mới tạo nên nguyên tắc pháp lý, những nhận định khác được coi là luận cứ phụ chỉ mang tính chất áp dụng tham khảo. Vấn đề là khi ra bản án, Thẩm phán không có thẩm quyền quyết định phần nội dung nào trong bản án là nguyên tắc pháp lý, phần nào là luận cứ phụ, vì nếu Thẩm phán có quyền này thì có thể dẫn đến tình trạng Thẩm phán lạm dụng thẩm quyền của mình trong việc xây dựng pháp luật. Vì vậy việc xác định phần nguyên tắc pháp lý trong bản án trước thuộc về Thẩm phán xét xử vụ việc tương tự sau đó. Để xác định phần nguyên tắc pháp lý, có hai nguyên tắc thường được thực hiện: nguyên tắc thứ nhất là mọi bản án cần phải được hiểu dựa trên những tình tiết đã được chứng minh trong vụ án đó, nguyên tắc thứ hai là cần phải đọc cả những bản án có liên quan trước đó. Mặc dù việc áp dụng hai nguyên tắc này cũng không thể xác định được một cách chính xác tuyệt đối phần nguyên tắc pháp lý của bản án, tuy nhiên nếu không xem đến cả hai nguyên tắc này thì cũng là thiếu căn cứ thực tế. Việc phân biệt giữa phần nguyên tắc pháp lý và phần luận cứ phụ trong một bản án là một đề tài đã được thảo luận từ rất lâu, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều phương pháp nhằm phân biệt hai nội dung này, thí dụ như nhà nghiên cứu E.Wambaugh (1856-1940) và Giáo sư A.L.Goodhart (1891-1978).

Phương pháp của E.Wambaugh

Dựa trên giả định rằng nguyên tắc pháp lý là một nguyên tắc chung mà nếu thiếu quy tắc này một vụ án có thể đã được xét xử theo một hướng khác, Wambaugh đề xuất phương pháp xác định nguyên tắc pháp lý của một bản án bằng cách: trước hết xác định một cách cẩn thận phần nhận định trong bản án được cho là nguyên tắc pháp lý, sau đó thêm vào nhận định này một từ trái nghĩa để làm đảo ngược ý nghĩa của nhận định này. Nếu nhận định này không làm thay đổi ý nghĩa thì nó không phải là nguyên tắc pháp lý, nếu nhận định đó làm thay đổi ý nghĩa thì nó chính là nguyên tắc pháp lý. Thí dụ trong một nhận định sau:

Một cá nhân phải chịu trách nhiệm đúng mực để tránh những hành vi hoặc thiếu sót mà cá nhân đó có khả năng thấy trước là có thể gây thiệt hại cho những người chịu ảnh hưởng lớn và trực tiếp và khi tiến hành thực hiện hành vi như vậy, cá nhân đó chắc chắn phải nghĩ tới những tác động và ảnh hưởng mà hành vi đó có thể gây ra cho người khác1.

Theo phương pháp xác định của Wambaugh, việc thay từ “phải” bằng từ “không cần” ở dòng đầu của nhận định trên cho thấy đã làm thay đổi ý nghĩa của nhận định đó, vậy nhận định này chính là nguyên tắc pháp lý.

Ưu điểm của phương pháp này là đưa ra một hình thức xác định một cách chính xác những nhận định nào không phải là nguyên tắc pháp lý. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ phù hợp với những vụ án chỉ có một vấn đề pháp luật cần xem xét, nếu vụ án có hai vấn đề pháp luật cần xem xét trở lên thì sẽ khó thực hiện (trong thực tế thì có rất nhiều vụ án loại này).

Phương pháp của tiến sĩ Goodhart

Theo Tiến sĩ Goodhart, nguyên tắc pháp lý của một vụ án có thể được xác  định bằng việc xác định các tình tiết mà Thẩm phán cho là quan trọng. Khi xét xử, Thẩm phán sẽ đưa ra những nhận định về pháp luật và quyết định về vụ án dựa trên những tình tiết quan trọng của vụ án. Bất kỳ Tòa án nào bị ràng buộc bởi vụ việc như vậy sẽ phải đưa ra phán quyết tương tự trừ khi trong vụ án mới có tình tiết quan trọng khác với vụ án trước đó. Thí dụ trong vụ Camplin (năm 1978): khi đó bị cáo mới 15 tuổi đã dùng một cái chảo nặng đánh chết người đàn ông trung niên có hành vi tấn công tình dục và sau đó còn chế giễu cậu. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử Camplin về tội giết người. Thượng viện Anh khi xử kháng cáo (thời gian này, thẩm quyền xét xử cao nhất vẫn thuộc Thượng viện, ngày 01/10/2009 Tòa án tối cao ở Anh mới chính thức thành lập) đã bác bỏ tội giết người và xử cậu ta về tội “ngộ sát” (có thể hiểu như là tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người) với nhận định rằng một thiếu niên 15 tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm lý, do đó không thể có mức độ kiềm chế và tự chủ giống như một người trưởng thành. Nếu trong một vụ án được xét xử sau đó, tất cả các tình tiết là giống nhau, chỉ khác là bị cáo đã dùng một cái ấm đun nước đánh kẻ tấn công, thì tình tiết này không được coi là tình tiết quan trọng và vụ án phải bắt buộc tuân theo nhận định pháp lý của vụ Camplin. Tuy nhiên, nếu trong vụ án sau, bị cáo là một người đàn ông đã 30 tuổi thì đây là tình tiết quan trọng khác biệt với vụ Campulin.

1.2. Yếu tố thứ hai của học thuyết án lệ Anh liên quan đến hệ thống thứ bậc trong hệ thống Tòa án Anh: Tòa án cấp dưới bắt buộc phải tuân theo bản án của Tòa án cấp cao hơn và của Tòa phúc thẩm, điều này có nghĩa là bản án của các Tòa án sơ thẩm không thể trở thành án lệ, và cũng có nghĩa là các Tòa án cấp cao hơn Tòa án đầu tiên đã xét xử sơ thẩm vụ án và Tòa phúc thẩm đều phải chịu sự ràng buộc bởi các bản án của Thượng viện (Tòa án tối cao). Khi từ chối áp dụng các bản án có liên quan của Tòa án cấp trên liên quan đến vụ án đang xét xử, Thẩm phán phải đưa ra những lý do hợp lý, như: các tình tiết trong vụ án mình đang xét xử khác với vụ án đã được xét xử trước đó, hoặc cho rằng bản án trước đó đã đưa ra một nguyên tắc pháp lý mơ hồ, hoặc là vấn đề còn đang tranh cãi, hay nguyên tắc pháp lý đó được đưa ra quá rộng vượt quá phạm vi vụ việc đang xét xử. Ngoài việc phải tuân theo bản án của Tòa án cấp trên, các Tòa án còn bị ràng buộc bởi chính bản án mà mình đã ban hành, có những nguyên tắc khác nhau đối với các Tòa án khác nhau: các Tòa án xử sơ thẩm không bị ràng buộc bởi các bản án của chính các Tòa án này, tức là các Tòa sơ thẩm, Tòa án hạt và Tòa án cấp cao không bị ràng buộc bởi các bản án trước đó của mình. Tuy nhiên, các Tòa chuyên trách của Tòa án cấp cao hoạt động với tư cách như Tòa phúc thẩm thì bị ràng buộc bởi các bản án trước đó của chính Tòa án này. Tòa phúc thẩm (là Tòa cấp dưới trực tiếp của Tòa án tối cao) bị ràng buộc bởi các bản án của nó trừ các trường hợp sau:

- Các bản án trước đó của Tòa phúc thẩm mâu thuẫn với nhau do đó không thể chọn một trong số những bản án đó để tuân theo;

- Bản án trước đó đã bị Thượng viện (Tòa án tối cao) bác bỏ;

- Bản án trước đó có sai sót do bỏ sót quy định của pháp luật hoặc nguyên tắc quan trọng của một án lệ.

Đối với Thượng viện thì trước năm 1996, cơ quan này vẫn bị ràng buộc bởi chính những bản án của mình trừ phi Thượng viện quyết định bỏ qua một quy định pháp luật hoặc một bản án ràng buộc trước đó. Tuy nhiên, tại Tuyên bố thực tiễn năm 1966, Thượng viện cho rằng, khi Thượng viện tự coi mình bị ràng buộc thì cũng có thể thoát khỏi sự ràng buộc nếu bản án trước đó được ban hành trong một điều kiện mà hiện giờ không còn tồn tại nữa, việc tuân thủ một cách cứng nhắc một bản án cũ có thể dẫn tới sự thiếu công bằng trong một số trường hợp cụ thể và cũng hạn chế quá mức đến sự phát triển của luật pháp (đây là những trường hợp Thượng viện (Tòa án tối cao) hủy bỏ án lệ)2.

2. Án lệ là một nguồn luật trong hệ thống pháp luật Anh

Các nguồn luật ở Anh bao gồm: các đạo luật do Nghị viện ban hành, các văn bản dưới luật do các cơ quan hành pháp ban hành theo thẩm quyền được quy định tại các đạo luật (tương tự như ở nước ta, luật do Quốc hội thông qua thường có quy định giao cho các cơ quan liên quan ban hành văn bản hướng dẫn thi hành), án lệ, luật và các Công ước của Cộng đồng châu Âu.

Án lệ có vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Anh, trong lịch sử, phần lớn các luật lệ được quy định trong các bản án đã xét xử, thí dụ như định nghĩa từ năm 1797 về tội giết người: “Giết người là hành vi của một người đầy đủ lý trí và trong độ tuổi chín chắn,giết một cách trái pháp luật ở trong một hạt bất kỳ một người nào nằm dưới sự che chở hòa bình của nhà Vua,hoặc (sự che chở này ) được thực hiện bởi một đương sự hoặc được pháp luật quy định, nếu như một bên bị thương hoặc bị đau mà chết vì thương tật hoặc vết thương đó trong vòng một năm hoặc một ngày kể từ ngày (giết) đó”. Quy định này đã được luật thành văn sửa đổi một vài điểm như việc một người Anh giết người ở nước ngoài (không chỉ ở trong địa hạt bất kỳ nữa) cũng bị coi là tội giết người, nhưng về cơ bản định nghĩa này vẫn được giữ nguyên3.

Ngày nay, phần lớn các luật trong hệ thống pháp luật Anh đều được Nghị viện thông qua. Án lệ luôn được coi là nguồn luật thứ cấp theo nghĩa là khi án lệ mâu thẫn với luật thành văn thì Thẩm phán phải áp dụng luật thành văn.

3. Cách thức áp dụng án lệ trong xét xử

Xin nêu vụ án dưới đây để minh họa cho cách thức mà các Thẩm phán ở Anh xác định án lệ áp dụng cho vụ án đang giải quyết.

Vụ Haseldine kiện Daw và Son Ltd năm 1941: Ông Daw là chủ một khu nhà đã thuê công ty Son là một công ty kỹ thuật có năng lực chuyên môn để kiểm tra và bảo dưỡng thang máy hàng tháng. Trước khi xảy ra tai nạn, một thợ máy của công ty này đã lắp ráp lại một cơ cấu quan trọng của thang máy. Khi ông Haseldine sử dụng thang máy lên thăm một căn hộ ở tầng trên, cơ cấu thang máy bị hỏng, khiến cabin rơi xuống đáy giếng thang và làm ông bị thương. Ông đã kiện cả ông Daw và công ty Son yêu cầu bồi thường thiệt hại cho thương tích của mình.

Khi giải quyết vụ án, Tòa Phúc thẩm đã xem xét vụ án giữa Donoghue và Steveson: cô Donoghue cùng một người bạn vào một quán café và được người bạn này mua cho một ly kem và một chai bia gừng. Sau khi uống, họ rót phần còn lại vào ly thì phát hiện một con ốc sên đã bị phân hủy trong chai bia. Do đã uống một phần chai bia, cô cho rằng đã bị nhiễm bệnh nguy hiểm nên đã kiện hãng bia Steven. Thượng viện Anh đã xử vụ này vào năm 1932, buộc hãng bia phải bồi thường thiệt hại cho cô với nhận định rằng: khi một nhà sản xuất bán một sản phẩm nhất định mà hình dạng sản phẩm đó, cụ thể trong vụ án này là chai bia, khi tới tay người tiêu dùng cuối cùng được mặc định là họ không có trách nhiệm và không thể kiểm tra trực tiếp chất lượng sản phẩm bên trong (trong vụ án này là do loại vỏ chai được sản xuất bằng thủy tinh đục nên không thể nhìn thấy bên trong), cùng với việc nhà sản xuất đã không cẩn thận trong quá trình sản xuất dẫn đến thiệt hại về sức khỏe và tài sản cho người tiêu dùng, thì nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm trước người tiêu dùng về nghĩa vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm4.

Trong vụ Haseldine, Tòa Phúc thẩm cho rằng cơ chế thang máy đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật đặc biệt nên không thể đòi hỏi một người bình thường không có chuyên môn như chủ nhà có thể giám sát, kiểm tra lại hoặc xác định các lỗi cơ khí bên trong do các kỹ sư chuyên nghiệp để lại. Tình tiết này tương tự như tình tiết vụ Donoghue không thể nhìn thấy bên trong vỏ chai thủy tinh đục. Do đó, ông Daw không có lỗi, công ty Son có vị trí như nhà sản xuất, phải chịu trách nhiệm bồi thường cho ông Haseldine.

Án lệ Haseldine thường được so sánh với các án lệ khác như Woodward kiện Mayor of Hasting (năm 1945)5: Một ngôi trường tạm thời chuyển đến sử dụng mặt bằng của một trường thuộc giáo xứ. Một nhân viên dọn dẹp vệ sinh (được thuê như một nhà thầu độc lập) đã quét sạch tuyết trên các bậc thềm của trường. Tuy nhiên, người này lại không rải bất kỳ một vật liệu chống trơn nào (như muối, cát) lên lớp băng còn sót lại. Cậu Woodwrd một học sinh 12 tuổi khi đến trường đã bị trượt chân trên bậc thềm đóng băng này, ngã và bị thương nặng. Mẹ cậu bé đã khởi kiện nhà trường (được đại diện bởi Thị trưởng vùng Hasting) đòi bồi thường. Tòa Phúc thẩm cho rằng, vụ này không giống với vụ Haseldine vì công việc lau dọn, cào tuyết là một công việc phổ thông, không đòi hỏi kỹ thuật phức tạp. Ban giám hiệu nhà trường hoàn toàn có khả năng và có nghĩa vụ kiểm tra xem công việc của nhân viên dọn vệ sinh đã được hoàn thành an toàn hay chưa sau khi họ đã làm việc xong. Do đó, nhà trường phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với chấn thương của học sinh.

Như vậy, để xác định vụ án đang xét xử có bị ràng buộc bởi một vụ án trước đó hay không, Thẩm phán trước hết phải xác định vụ án có tình tiết quan trọng tương tự như trong vụ án trước hay không, tiếp theo là xác định nguyên tắc pháp lý trong vụ án trước và sau đó áp dụng nguyên tắc đó đối với vụ án hiện có. Trong trường hợp các tình tiết quan trọng là khác hẳn nhau giữa hai vụ án như vụ Woodward và vụ Haseldine thì phải áp dụng một nguyên tắc khác.

 

NGÔ CƯỜNG

Tài liệu tham khảo

1. Rupert Cross và J.W. Harris, Tiền lệ pháp trong hệ thống pháp luật Anh, Nxb. Clarendon Press - Oxford, 2004.

2. Tiến sỹ Kate Malleson (Khoa Luật trường kinh tế Luân Đôn), Hệ thống pháp luật, Nxb. Lexis Nexis - UK, 2003.

3. Án lệ và pháp luật, Báo cáo cho Đại hội lần thứ 17 của Học viện luật so sánh quốc tế, Nxb. Bruylant Bruxelles, 2007.

4. Michel Fromont, Gs trường Đại học Panthéon - Sorbonne (Paris I) Mémentos Dalloz - Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới - 2001 (Bản dịch của Nhà pháp luật Việt - Pháp).

5. TS. Nguyễn văn Nam, Lý luận và thực tiễn về án lệ trong hệ thống pháp luật của các nước Anh, Mỹ, Pháp, Đức và những kiến nghị đối với Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, 2012.       


1 Theo Rupert Cross và J.W.Harris, Tiền lệ pháp trong hệ thông pháp luật Anh, Nxb. Clarendon Press - Oxford, 2004.

2 Theo Kate Malleson, Hệ thống pháp luật, Nxb. Lexis Nexis - UK, 2003.

3 Theo Kate Malleson, Tlđd (2).

4 Theo Rupert Cross và J.W.Harris, Tlđd(1).

5 Vụ Haseldine và vụ Woodward tham khảo từ AI.

Ảnh minh họa: Chính trị Vương Quốc Anh - Nguồn: Internet.