Có được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu?
Sau khi ông, bà tôi qua đời thì cha, mẹ tôi đứng ra kê khai nhà đất đã quản lý, sử dụng hơn 30 năm. Vậy nhà đất mà ông, bà tôi để lại có xác lập quyền sở hữu cho cha, mẹ tôi theo thời hiệu không?
Hỏi: Ông nội tôi mất năm 1969, bà nội tôi mất năm 1973. Ông bà tôi sinh được ba người con trai, hai bác tôi đi nơi khác sinh sống, chỉ có cha tôi sống chung với ông, bà nội. Khi cha tôi kết hôn với mẹ tôi thì cha, mẹ tôi tiếp tục sống chung với ông, bà nội. Sau khi ông, bà tôi qua đời thì cha, mẹ tôi đứng ra kê khai nhà đất đã quản lý, sử dụng hơn 30 năm. Vậy nhà đất mà ông, bà tôi để lại có xác lập quyền sở hữu cho cha, mẹ tôi theo thời hiệu không?
(Trần Thảo Ngọc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An)
Trả lời
Theo khoản 1 Điều 149 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định”.
Căn cứ Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015 về việc cho phép xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu được quy định như sau: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, căn cứ theo các quy định trên của pháp luật thì để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu cần phải đáp ứng các điều kiện như sau: Việc chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng phải ngay tình, tức là người chiếm hữu không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật; việc chiếm hữu tài sản được thực hiện trong một thời gian mà không có tranh chấp (chiếm hữu liên tục); việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm (chiếm hữu công khai); thời gian phải là 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản. Do đó, việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu đối với người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đủ các điều kiện như nêu trên đương nhiên được công nhận.
Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 về “Thời hiệu thừa kế” thì:
“1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này”.
Như vậy, đối với trường hợp của gia đình bạn thì nhà, đất do ông, bà nội của bạn để lại là di sản. Cha, mẹ của bạn là người được giao quản lý, sử dụng và đến nay cha, mẹ bạn đã quản lý nhà, đất trên 30 năm do đó được xác lập quyền sở hữu theo quy định của pháp luật.
Chúng tôi xin trả lời như vậy để bạn tham khảo.
Ảnh minh họa của Thái Vũ
Bài liên quan
-
Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội làm việc với Đoàn công tác UNIFAB về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
-
Nghiên cứu, đề xuất về phương thức xác lập, cách tính chỉ tiêu về tỷ lệ giải quyết các loại vụ việc của Tòa án nhân dân trong giai đoạn mới
-
“Niềm tin Công lý” số 4: Niềm tin được xác lập từ một phán quyết
-
“Niềm tin Công lý” số 3: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong kỷ nguyên số
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tòa án nhân dân tối cao triển khai Kế hoạch hoàn thiện vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027–2031
-
Quyền được lắng nghe của bị hại trong tố tụng hình sự: Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức và gợi mở cho Việt Nam
-
Nâng cao chất lượng xét xử, gắn kết quả công tác với trách nhiệm người đứng đầu
-
Chánh án TANDTC Nguyễn Văn Quảng tiếp Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam
-
LÁ CHẮN TRƯỚC CÁC XUẤT BẢN PHẨM MANG “ĐỘC TỐ”
Bài 2: Xuất bản phẩm điện tử thực trạng đáng báo động
Bình luận