PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ VÀ THẨM QUYỀN KHÁC CỦA TÒA ÁN TRONG HỆ THỐNG TÒA ÁN 03 CẤP
Determining the jurisdiction and other competeneces of Courts the three-tier Court system
(TCTA) - Bài viết phân tích cơ sở chính trị, xã hội, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn của việc quy định và hoàn thiện thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, nhất là của Tòa án nhân dân trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Bài viết phân tích những mặt tích cực và hạn chế của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, xác định các yếu cầu và đưa ra các kiến nghị cụ thể về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong quá trình hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự. Abstract: The article analyses the political, social, legal, and practical foundations for defining and refining the jurisdiction of procedural authorities and officials, particularly the People's Courts in the Criminal Procedure Code. It examines the strengths and limitations of the current Criminal Procedure Code, identifies key requirements for its further improvement, and offers specific recommendations regarding the jurisdiction of People's Courts in the process of amending and improving the Criminal Procedure Code.
Đặt vấn đề
Nâng cao trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, bảo đảm hiệu quả hoạt động và tính độc lập của các cơ quan tư pháp, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân… là những đòi hỏi quan trọng của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Đặc biệt, trong hoạt động tư pháp hình sự, nơi mà hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng mang tính quyền lực nhà nước rất cao, nơi mà hoạt động liên quan rất lớn đến quyền, lợi ích của con người thì việc quy định rõ quyền hạn, và trên cơ sở đó xác định cụ thể thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, người tiến hành tố tụng, nhất là của Tòa án, Thẩm phán có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp, mà còn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng có quyền, lợi ích liên quan và bảo đảm kiểm soát hiệu quả việc thực hiện quyền lực trong hoạt động tư pháp.
Trong nhiều năm qua, pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) nước ta đã có nhiều tiến bộ trong việc quy định, phân định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng. Đó là cơ sở pháp lý cho hoạt động tố tụng hình sự đạt hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều quy định còn bất cập; một số quy định còn vướng mắc trong triển khai thực hiện trong bối cảnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay. Những bất cập, vướng mắc đó chủ yếu tập trung ở việc phân định chưa rõ ràng thẩm quyền của các cơ quan trong hệ thống tư pháp, giữa chức năng quản lý hành chính và chức năng tố tụng của những người tiến hành tố tụng như Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án v.v…
Vì vậy, việc nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng nói chung, phân định thẩm quyền giữa các cơ quan trong hệ thống tư pháp, giữa thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố tụng của các chức danh tư pháp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật TTHS và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định đó trong thực tiễn.
1. Cơ sở quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân
1.1. Cơ sở chính trị, xã hội
Xác định tầm quan trọng của việc quy định thẩm quyền trong tố tụng tư pháp nói chung, của Tòa án trong TTHS nói riêng, Đảng ta đã có những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo cụ thể, rõ ràng trong cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc xác định đúng đắn thẩm quyền tư pháp không chỉ nhằm bảo đảm sự đúng đắn, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động tư pháp, mà còn bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong TTHS.
Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định: “Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình”[1] là một trong những nội dung quan trọng của Cải cách tư pháp hiện nay.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới cũng đã có quan điểm: “Xác định thẩm quyền của Tòa án để thực hiện đầy đủ, đúng đắn quyền tư pháp...; mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong quyết định một số vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền công dân”. Nghị quyết cũng xác định, phân định rõ thẩm quyền hành chính, thẩm quyền tư pháp[2].
Ngoài ra, trong các nghị quyết của Đảng về chuyên đề cũng như nghị quyết lãnh đạo chung tại các kỳ đại hội, Đảng ta đều đòi hỏi tăng cường việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực trong mọi lĩnh vực hoạt động nhà nước, trong đó có lĩnh vực tư pháp hình sự. Đồng thời đỏi hỏi các hoạt động thực thi pháp luật, trong đó có pháp luật TTHS phải có hiệu lực, hiệu quả[3].
1.2. Cơ sở pháp lý
Hiến pháp năm 2013, đạo luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xác định Tòa án nhân dân (TAND) là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp[4]. Như vậy, thẩm quyền chung của TAND là thực hiện quyền tư pháp. Mặc dù trong khoa học pháp lý có những quan niệm khác nhau về quyền tư pháp, theo quan điểm chung của Đảng ta thì quyền tư pháp bao gồm[5]:
(i) Quyền xử lý vi phạm pháp luật. Theo nguyên lý phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước, Quốc hội là cơ quan lập pháp, ban hành luật. Chính phủ là cơ quan hành pháp, tổ chức thi hành pháp luật. Trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, nếu có hành vi vi phạm điều cấm của pháp luật thì cơ quan hành pháp chuyển đến Tòa án để xử lý. Và là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, TAND xử lý vi phạm, áp dụng chế tài đối với vi phạm đó;
(ii) Quyền giải quyết các tranh chấp trong xã hội. Là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, TAND có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giừa các cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức, giữa cá nhân, tổ chức với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Phán quyết của Tòa án được bảo đảm thi hành bằng cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
(iii) Quyền tài phán các vấn đề về quyền con người, quyền công dân như tuyên bố một người đã chết, một người mất tích; tuyên bố thân thích trong quan hệ nhân thân; tước bỏ quyền nuôi con; khiếu nại về quyền bầu cử, ứng cử... Cũng như giải quyết tranh chấp, phán quyết của Tòa án khi thực hiện thẩm quyền này được bảo đảm thi hành bằng cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
(iv) Công nhận và cho thi hành các thỏa thuận, phán quyết ngoài Tòa án Việt Nam như công nhận hòa giải thành giữa các đương sự trong các vụ án phi hình sự; các phán quyết trọng tài quốc tế và Việt Nam; công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các phán quyết của Tòa án nước ngoài.
Việc xác định thẩm quyền tư pháp chung của Tòa án Việt Nam cần xuất phát từ nhận thức chung nêu trên về quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngoài quy định của Hiến pháp, pháp luật TTHS Việt Nam cũng cần phù hợp, nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế về thẩm quyền trong tố tụng tư pháp. Đặc biệt là thẩm quyền tạm giam trong TTHS. Theo Công ước Liên hợp quốc năm 1966 về các quyền dân sự và chính trị thì bất kỳ một người nào bị bắt giữ về một tội phạm hình sự đều phải được đưa ra để Tòa án quyết định tạm giam hay trả tự do; hoặc để Tòa án phê chuẩn lệnh tạm giam đó[6].
Quy định của Công ước đã được nội luật hóa trong pháp luật của nhiều quốc gia. Theo đó, việc bắt hoặc tạm giam, tức hạn chế quyền tự do của con người, phải do Tòa án quyết định, hoặc ít nhất phải do Tòa án phê chuẩn.
1.3. Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn TTHS trong những năm qua cũng là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật TTHS nói chung, hoàn thiện thẩm quyền của TAND nói riêng.
Nhìn chung, trong TTHS những năm gần đây, các Tòa án đã thực hiện đầy đủ, đúng đắn các quy định của BLTTHS về thẩm quyền của Tòa án, nhất là thẩm quyền xét xử vụ án hình sự. Tuy nhiên, thực tiễn tố tụng cũng đặt ra những vấn đề còn trăn trở như còn để xảy ra tình trạng oan, sai; việc pháp luật giao thẩm quyền tạm giam cho các chủ thể buộc tội, dẫn đến ảnh hưởng đến phán quyết của Tòa án[7]; việc lạm dụng biện pháp tạm giam; tỷ lệ cao người phạm tội bị kết án phạt tù; thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài...
Những hạn chế nêu trên do nhiều nguyên nhân khác nhau; trong đó có nguyên nhân là xác định, quy định đúng đắn thẩm quyển của các cơ quan trong hệ thống tư pháp, nhất là thẩm quyền của TAND[8].
2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thẩm quyền của Tòa án nhân dân
Kế thừa những quy định của pháp luật TTHS trước đó và tiếp nhận những tư tưởng, quan điểm mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở nước ta, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã hoàn thiện một bước đáng kể các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng nói chung, của các chức danh xét xử trong TAND nói riêng.
Nghiên cứu các quy định của BLTTHS năm 2015 và qua thực tiễn một số năm áp dụng trên thực tế và trong bối cảnh cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, chúng tôi có một số nhận xét sau đây:
2.1. Những điểm tích cực
Thứ nhất, BLTTHS năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 đã phân định thẩm quyền xét xử của TAND các cấp theo mô hình Tòa án 03 cấp: Tòa án nhân dân tối cao, TAND cấp tỉnh, TAND khu vực. Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm được thực hiện theo các căn cứ: (1) Về tính nguy hiểm của tội phạm; (2) Theo người bị buộc tội; (3) Theo tính chất của tội phạm[9].
Đồng thời, Bộ luật cũng bổ sung thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của TAND cấp tỉnh và từ đó là thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Chánh án TAND cấp tỉnh.
Thứ hai, BLTTHS năm 2015 có những điều luật quy định tập trung, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, của Kiểm sát viên, của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án và của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án. Đồng thời với các điều luật đó, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng này còn được quy định cụ thể ở các điều luật thuộc các giai đoạn tố tụng cụ thể trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Thứ ba, đã có quy định phân định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án với nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án. Trong xét xử vụ án hình sự, Chánh án chịu trách nhiệm tổ chức xét xử vụ án, phân công Thẩm phán, áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam; đồng thời ra các quyết định về thi hành án như ra quyết định thi hành án, hoãn thi hành án phạt tù...
Thứ tư, đã có sự phân biệt ở một mức độ nhất định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm chung với nhiệm vụ, quyền hạn trong tiến hành tố tụng đối với từng vụ án hình sự cụ thể của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động tố tụng và xác định trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng đối với hoạt động xét xử.
Thứ năm, BLTTHS có chương quy định về khiếu nại, tố cáo tạo cơ sở pháp lý cho người tham gia tố tụng cũng như công dân có công cụ pháp lý thực hiện việc giám sát của công dân đối với hoạt động tố tụng hình sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; cơ sở pháp lý để giải quyết nhanh chóng, kịp thời các khiếu nại, tố cáo, giải quyết kịp thời vụ án hình sự, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân; là điều kiện để nâng cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự.
2.2. Những hạn chế, bất cập
Theo chúng tôi, từ góc độ bản chất, đặc điểm của hoạt động tư pháp, nhất là nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, xác định thẩm quyền, phân định nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng, BLTTHS năm 2015 còn có một số bất cập, hạn chế, vướng mắc sau đây:
Thứ nhất, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán được quy định còn hạn chế. Đồng thời sự phân định nhiệm vụ, quyền hạn giữa Thủ trưởng Cơ quan điều tra với Điều tra viên, giữa Viện trưởng Viện kiểm sát với Kiểm sát viên, giữa Chánh án với Thẩm phán trong hoạt động tố tụng đối với việc giải quyết vụ án hình sự cụ thể thiếu hợp lý làm hạn chế hiệu quả, chất lượng, tính kịp thời của các hoạt động tố tụng, không phát huy được trách nhiệm của người tiến hành tố tụng đối với việc giải quyết vụ án hình sự.
Theo quy định của BLTTHS hiện hành khi tiến hành tố tụng đối với các vụ án cụ thể, Thủ trưởng (hoặc Phó Thủ trưởng) Cơ quan điều tra, Viện trưởng (hoặc Phó Viện trưởng) Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn ra các quyết định tố tụng; còn Điều tra viên, Kiểm sát viên trực tiếp thực hiện các biện pháp tố tụng thi hành các quyết định tố tụng đó. Như vậy, về nguyên tắc Thủ trưởng (hoặc Phó Thủ trưởng) Cơ quan điều tra, Viện trưởng (hoặc Phó Viện trưởng) Viện kiểm sát có quyền hạn tuyệt đối trong các quyết định tố tụng trên cơ sở hoạt động và đề nghị của Điều tra viên, Kiểm sát viên; và ngược lại, hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên, Kiểm sát viên lại phụ thuộc vào tính đúng đắn, kịp thời của các quyết định tố tụng do Thủ trưởng (hoặc Phó Thủ trưởng) Cơ quan điều tra, Viện trưởng (hoặc Phó Viện trưởng) Viện kiểm sát ban hành. Cơ chế tố tụng đó một mặt tạo nên những rào cản ảnh hưởng đến chất lượng, tính kịp thời của hoạt động tố tụng; mặt khác không tạo ra cơ sở rõ ràng về trách nhiệm của Thủ trưởng (hoặc Phó Thủ trưởng) Cơ quan điều tra, Viện trưởng (hoặc Phó Viện trưởng) Viện kiểm sát với Điều tra viên, Kiểm sát viên đối với kết quả hoạt động tố tụng của mình theo nguyên tắc “quyền hạn đi đôi với trách nhiệm” trong hoạt động nhà nước.
Đối với Tòa án, do bị chi phối bởi nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nên bất cập này cũng có nhưng không thật rõ ràng như đối với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Đặc biệt, việc phân công xét xử vụ án do Chánh án Tòa án quyết định là thiếu tính khách quan; nên chăng, việc phân công này nên được thực hiện ngẫu nhiên.
Thứ hai, chưa có sự phân định rõ ràng, cụ thể trong quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án nhân dân từ góc độ hành chính pháp lý và từ góc độ TTHS.
Theo BLTTHS thì nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án được quy định theo hai khoản: (1) Quy định nhiệm vụ quyền hạn chung (khoản 1) và (2) Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể khi trực tiếp tiến hành điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, xét xử đối với từng vụ án hình sự cụ thể (khoản 2). Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng,sự phân biệt này là không thật rõ ràng. Là thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng, Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án nhân dân có nhiệm vụ tổ chức hoạt động điều tra, truy tố và xét xử bằng cách phân công, thay đổi người tiến hành tố tụng đối với vụ án; kiểm tra hoạt động tố tụng của những người được phân công; hủy bỏ hay thay đổi các quyết định tố tụng của cấp dưới (đối với Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát) và giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền. Còn các nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền tố tụng trong giải quyết vụ án cụ thể thì nên quy định cho người tiến hành tố tụng với tư cách Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán.
Ngoài ra, về vấn đề này từng cơ quan tiến hành tố tụng còn những bất cập cụ thể. Đó là:
+ Đối với Cơ quan điều tra: mối quan hệ giữa Thủ trưởng cơ quan với Cơ quan điều tra; mối quan hệ giữa nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng và nhiệm vụ, quyền hạn hành chính (Phó Thủ trưởng cơ quan công an là Thủ trưởng Cơ quan điều tra); mối quan hệ tố tụng với quan hệ hành chính của cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, Biên phòng, Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an hay Quân đội… cũng đang rất phức tạp, thiếu rõ ràng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tố tụng;
+ Về thẩm quyền của TAND trong xác minh, điều tra để thu thập chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự. Việc thu thập chứng cứ vụ án là nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án của các bên trong quá trình tố tụng để phục vụ cho việc buộc tội, bào chữa; Tòa án kiểm tra, đánh giá chứng cứ do các bên đưa ra. Nếu quy định giao cho Tòa án thu thập chứng cứ để chứng minh thì hoạt động xét xử sẽ mất đi tính vô tư, khách quan cần thiết. Tòa án chỉ thu thập chứng cứ để thực hiện việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ do các bên tham gia tố tụng đưa ra; mà không nhằm để buộc tội hay gỡ tội. Vì vậy, vấn đề đặt ra là có nên giao cho Tòa án thẩm quyền thu thập chứng cứ, xác minh điều tra trước khi phiên tòa xét xử được bắt đầu?
+ Đối với Tòa án, khi quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, chưa phân biệt được rạch ròi trong cơ cấu điều luật nhiệm vụ, quyền hạn chung, nhiệm vụ, quyền hạn trong xét xử và nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án. Theo BLTTHS, thẩm quyền của Chánh án, Phó Chánh án trong lĩnh vực thi hành án hình sự lại được quy định ở khoản 1 về thẩm quyền tố tụng chung là thiếu hợp lý.
Thứ ba, theo chúng tôi, quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp ngăn chặn tạm giam là điều đáng bàn nhất. Cụ thể là:
+ Về bản chất pháp lý, tạm giam không thuộc một trong ba chức năng cơ bản của tố tụng hình sự; tạm giam chỉ là biện pháp bảo đảm tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc chức năng bảo đảm, không phải thuộc chức năng cơ bản (buộc tội, bào chữa, xét xử) trong tố tụng hình sự;
+ Việc tước bỏ hay hạn chế quyền con người, nhất là tước bỏ quyền tự do, một quyền con người quan trọng phải thuộc về chức năng của cơ quan thực hiện quyền tư pháp - Tòa án. Việc giao cho cơ quan buộc tội (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát), không phải là cơ quan thực hiện quyền tư pháp thẩm quyền áp dụng tạm giam là trái với nguyên lý của Nhà nước pháp quyền. Đồng thời, là cơ quan buộc tội, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát sẽ có xu thế lạm dụng quyền tạm giam trong tiến hành tố tụng hình sự và thực tiễn thể hiện điều đó khá rõ...
3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
3.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về phân định thẩm quyền trong tố tụng hình sự
Việc hoàn thiện nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong BLTTHS có ý nghĩa rất quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn; bảo đảm cho các quy định của BLTTHS phù hợp với nguyên lý Nhà nước pháp quyền, có tính khả thi cao, nâng cao hiệu quả hoạt động TTHS, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, người tham gia tố tụng nói riêng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
Theo chúng tôi, việc hoàn thiện đó phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau đây:
- Một là, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo hướng phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động TTHS; tăng quyền hạn, trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Có như vậy, hoạt động tố tụng mới chủ động, khách quan, hiệu quả; người tiến hành tố tụng mới phản ứng kịp thời với tình hình và dám tự mình chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.
- Hai là, bảo đảm quyền hạn phải đi đôi với trách nhiệm trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng. Không để xảy ra tình trạng quyền hạn của một người còn trách nhiệm lại thuộc về người khác hoặc tình trạng quyền hạn thì quy định cụ thể nhưng trách nhiệm thì chung chung. Chỉ khi quyền hạn đi liền với trách nhiệm thì người tiến hành tố tụng mới thận trọng hơn trong thực hiện nhiệm vụ tố tụng của mình góp phần xử lý vụ án đúng đắn, khách quan.
- Ba là, bảo đảm nguyên tắc độc lập trong TTHS. Người trực tiếp tiến hành các hoạt động tố tụng phải là người được quyết định các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án.
- Bốn là, các quy định phải bảo đảm tính hiệu quả, khả thi. Nhiệm vụ, quyền hạn được quy định phải được bảo đảm thực hiện bằng các quy định của pháp luật, bằng các biện pháp tổ chức và được sự kiểm tra, giám sát cụ thể, chặt chẽ v.v…
3.2. Các kiến nghị cụ thể
Qua phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành và yêu cầu của việc hoàn thiện BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng, chúng tôi có một số kiến nghị như sau:
Một là, hình thành hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng, nhiệm vụ được xác định rõ ràng, có tính độc lập theo tính chất của chức năng tố tụng. Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
+ Tòa án nhân dân xét xử các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền. Tiến tới tổ chức Tòa án theo cấp xét xử: Tòa án sơ thẩm, Tòa án phúc thẩm, Tòa án giám đốc thẩm, tái thẩm (phá án).
+ Là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, BLTTHS không nên giao cho Tòa án thẩm quyền thuộc chức năng buộc tội trước khi vụ án được xét xử tại phiên tòa. Vì vậy, không nên quy định cho Tòa án thẩm quyền khởi tố vụ án, thẩm quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung khi phát hiện tội phạm mới, người phạm tội mới; xét xử về tội nặng hơn tội mà Viện kiểm sát truy tố...
+ Là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, Tòa án phải là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định hoặc phê chuẩn quyết định tạm giam. Giao cho Tòa án thẩm quyền quyết định hay phê chuẩn biện pháp ngăn chặn tạm giam mang tính phổ quát trong các quốc gia pháp quyền nhằm không chỉ phù hợp với nguyên lý Nhà nước pháp quyền, mà là biện pháp bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền tự do của con người trong thế giới hiện đại.
+ Mặc dù BLTTHS hiện hành không quy định cho Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Phó Chánh án Tòa án quân sự Trung ương thẩm quyền này, nhưng trên thực tiễn họ vẫn ký các kháng nghị đó. Trong Dự thảo BLTTHS sửa đổi có đưa ra phương án trong một số trường hợp cấp trưởng có thể ủy quyền cho cấp phó thực hiện một số thẩm quyền tố tụng[10].
Khác với quan hệ hành chính, là người giúp cấp trưởng, cấp phó có thể được ủy quyền hoặc ký thay cấp trưởng trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; nhưng trong tố tụng tư pháp, để bảo đảm sự độc lập của người tiến hành tố tụng, việc cấp phó ký thay, ký thừa ủy quyền cấp trưởng là không được chấp nhận. Vì vậy, theo chúng tôi, thay cho việc ủy quyền hoặc ký thay, có thể bổ sung thẩm quyền của cấp phó trong những trường hợp này.
- Phân biệt rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án trong việc tổ chức, chỉ đạo hoạt động tố tụng và trong tiến hành tố tụng đối với vụ án cụ thể. Tăng quyền hạn, trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán trong hoạt động tố tụng.
Đây là nội dung rất quan trọng trong việc hoàn thiện quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp (tăng cường tranh tụng, đảm bảo dân chủ, công khai các hoạt động tố tụng, gắn quyền hạn với trách nhiệm của người tiến hành tố tụng…), nâng cao hiệu quả và bảo đảm tính kịp thời của hoạt động tố tụng đối với từng vụ án cụ thể.
Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án chỉ thực hiện các nhiệm vụ hành chính tư pháp và phát động quá trình tố tụng thuộc chức năng, thẩm quyền của cơ quan mình (như quyết định khởi tố vụ án, quyết định phân công Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán…).
Các nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng cụ thể liên quan đến giải quyết vụ án (như ra các quyết định áp dụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, các quyết định về giải quyết thực chất vụ án như tạm đình chỉ, đình chỉ, kết luận điều tra, đề nghị truy tố, truy tố, đưa vụ án ra xét xử…) phải do Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán được phân công thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp luật; không nên để tình trạng người trực tiếp thực hiện các biện pháp tố tụng thì không có thẩm quyền quyết định và ngược lại, người có thẩm quyền quyết định thì chỉ nghe báo cáo mà không trực tiếp tiến hành tố tụng làm cho các quyết định tố tụng khó có thể chính xác, kịp thời, khách quan. Hơn nữa tình trạng này cũng dễ dẫn đến trách nhiệm không rõ ràng giữa những người tiến hành tố tụng.
Từ những phân tích trên, về cơ cấu BLTTHS, cần phân biệt điều khoản quy định nhiệm vụ, quyền hạn hành chính tư pháp của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án (không bao gồm nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng) và điều khoản quy định nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán (bao gồm cả của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án khi họ trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án).
- Quy định rõ hậu quả tố tụng và trách nhiệm đối với việc vi phạm các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng.
Chúng tôi cho rằng, mọi trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền hạn, trách nhiệm được quy định trong BLTTHS đều là vi phạm nghiêm trọng thủ tục TTHS và phải được khắc phục bằng các biện pháp tố tụng: các quyết định trái pháp luật phải được hủy bỏ hoặc hủy bỏ để tiến hành tố tụng lại cho đúng pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của người tham gia tố tụng, tính chính xác, khách quan trong giải quyết vụ án hình sự.
- Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về khiếu nại theo hướng:
+ Khiếu nại về các hành vi hay quyết định hành chính tư pháp của cơ quan, người tiến hành tố tụng thì do Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng tự mình hoặc cấp trên giải quyết;
+ Khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng thì do các cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng có thẩm quyền giải quyết bằng các biện pháp tố tụng như hủy bỏ, thay thế, hủy bỏ và tiến hành tố tụng lại hoặc tự mình sửa đổi… Cụ thể là: khiếu nại liên quan đến hoạt động điều tra vụ án do Kiểm sát viên chỉ đạo hoạt động điều tra giải quyết; khiếu nại liên quan đến hoạt động công tố do cơ quan công tố cấp trên giải quyết; khiếu nại liên quan đến hoạt động xét xử do Tòa án cấp trên giải quyết v.v…
Kết luận
Việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về phân định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng là yêu cầu cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và bảo đảm nguyên tắc Nhà nước pháp quyền. Theo đó, cần phân định rõ chức năng, thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng; bảo đảm quyền hạn gắn liền với trách nhiệm, đề cao tính độc lập của người trực tiếp tiến hành tố tụng và nâng cao tính khả thi của các quy định pháp luật. Đồng thời, cần tăng cường thẩm quyền tư pháp của Tòa án, phân biệt nhiệm vụ quản lý hành chính tư pháp với hoạt động tố tụng cụ thể, qua đó trao quyền và trách nhiệm tương xứng cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán. Bên cạnh đó, pháp luật cần quy định rõ hậu quả pháp lý đối với các vi phạm về thẩm quyền, trách nhiệm tố tụng. Những yêu cầu và kiến nghị này sẽ góp phần bảo đảm hoạt động TTHS được thực hiện khách quan, kịp thời, đúng pháp luật, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.
[1] Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
[2] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[3] Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[4] Điều 102 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[5] Nghị quyết số 27-NQ/TW (tlđd); Trần Văn Độ, Tòa án trong Hiến pháp 2013, Sách Bình luận Hiến pháp 2015, Chủ biên Hoàng Thế Liên, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, 2016.
[6] Điều 9 Công ước Liên hợp quốc năm 1966 về các quyền dân sự và chính trị.
[7] Thực tiễn cho thấy các bị cáo đã bị tạm giam trong quá trình tố tụng thì khi xét xử Toà án không cho hưởng án treo hoặc áp dụng các hình phạt không phải tù.
[8] Thực tiễn cũng cho thấy khoảng 80% bị can, bị cáo bị tạm giam trong điều tra, truy tố, xét xử và cũng chừng đó phần trăm người bị kết án bị áp dụng hình phạt tù.
[9] Điều 268 BLTTHS năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[10] Ví dụ: Điều 38, Điều 45, Điều 48 Dự thảo BLTTHS (bản ngày 15/10/2026) .
Tài liệu tham khảo:
1. Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
2. BLTTHS năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
3. Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2026 (bản ngày 15/10/2026).
4. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
5. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
6. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
7. Công ước Liên hợp quốc năm 1966 về các quyền dân sự và chính trị.
Bài liên quan
-
GIỚI HẠN XÉT XỬ, TRÁCH NHIỆM CHỨNG MINH VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LIMITS OF TRIAL, BURDEN OF PROOF AND THE COURT’S ROLE IN RELATION TO DOCUMENTS AND -
HOÀN THIỆN BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Improving the Criminal Procedure Code to meet the requirements for the exercise of judicial power by the People’s Courts in the new period -
HOÀN THIỆN THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ PHÙ HỢP VỚI MÔ HÌNH TÒA ÁN 03 CẤP
IMPROVING CASSATION AND REOPENING PROCEDURES UNDER THE THREE-TIER COURT APPARATUS -
Quyền được lắng nghe của bị hại trong tố tụng hình sự: Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức và gợi mở cho Việt Nam
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tòa án nhân dân tối cao triển khai Kế hoạch hoàn thiện vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027–2031
-
HOÀN THIỆN THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ PHÙ HỢP VỚI MÔ HÌNH TÒA ÁN 03 CẤP
IMPROVING CASSATION AND REOPENING PROCEDURES UNDER THE THREE-TIER COURT APPARATUS -
Nâng cao chất lượng xét xử, gắn kết quả công tác với trách nhiệm người đứng đầu
-
Quyền được lắng nghe của bị hại trong tố tụng hình sự: Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức và gợi mở cho Việt Nam
-
HOÀN THIỆN BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Improving the Criminal Procedure Code to meet the requirements for the exercise of judicial power by the People’s Courts in the new period
Bình luận