HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TỐ TỤNG ĐIỆN TỬ TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Improving the legal framework for eletronic procedures in criminal adjudication
(TCTA) - Sự phát triển của khoa học công nghệ ngày nay, trong đó có sự phát triển của mạng máy tính, mạng viễn thông đã thay đổi rất lớn cách con người giao tiếp trong đời sống xã hội, bên cạnh việc khai thác chứng cứ để giải quyết các vụ án hình sự từ các nguồn truyền thống thì việc khai thác chứng cứ bằng nguồn dữ liệu điện tử, trong không gian mạng và đời sống số đã trở thành một trong những yêu cầu tất yếu trong hầu hết các vụ án hình sự. Bên cạnh đó, khi giải quyết các vụ án hình sự, nếu các cơ quan tố tụng ứng dụng công nghệ thông tin, sẽ giúp cho quá trình thực hiện nhanh chóng, kịp thời, giải phóng sức lao động, giảm các chi phí tố tụng và chính xác hơn trong việc đưa ra các quyết định tố tụng. Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, mặc dù lần đầu tiên quy định dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ, cùng với quy định một số các hoạt động tố tụng gắn với dữ liệu điện tử, không gian mạng và đời sống số. Tuy nhiên, các chế định này hiện vẫn chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, chưa hình thành trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự một cách hiệu quả, phù hợp với các quy định pháp luật khác nên cần có sự điều chỉnh và tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới khi xây dựng BLTTHS (sửa đổi). Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá dự thảo BLTTHS (sửa đổi) ngày 15/10/2026, bài viết đề xuất hoàn thiện một số chế định cơ bản về tố tụng điện tử trong xét xử vụ án hình sự.
Đặt vấn đề
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị, trong đó có hệ thống Tòa án nhân dân. Nghị quyết xác định đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, tạo động lực phát triển, bứt phá của đất nước trong kỷ nguyên mới. Trước đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII cũng đã xác định việc xây dựng Tòa án điện tử là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Nhằm từng bước cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo nêu trên, khoản 1 Điều 136 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 lần đầu tiên ghi nhận việc Tòa án xét xử bằng phương thức trực tuyến trong một đạo luật, bên cạnh hình thức xét xử trực tiếp truyền thống[1]. Như vậy, tố tụng điện tử trong xét xử vụ án hình sự, tương lai gần không còn là hoạt động thí điểm mà sẽ trở thành một trong những phương thức làm việc thường xuyên của hệ thống Tòa án, nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận của hoạt động tố tụng, rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc, vụ án, giảm chi phí và nguồn lực xã hội, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng[2]. Tuy nhiên, BLTTHS hiện hành vẫn chưa có quy định cụ thể về nội dung này. Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) ngày 15/10/2026 (sau đây viết tắt là dự thảo BLTTHS) đã bổ sung nhiều quy định mới về tố tụng điện tử, tuy nhiên một số nội dung vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện. Do vậy, chúng tôi cho rằng trong lần pháp điển BLTTHS này, một số chế định cơ bản liên quan đến tố tụng điện tử trong xét xử vụ án hình sự cần được hoàn thiện như: nguyên tắc tố tụng điện tử, chế định về chứng cứ điện tử, hồ sơ điện tử, tống đạt điện tử và xét xử trực tuyến.
1. Nguyên tắc tố tụng điện tử
Để có thể xây dựng một chế định mới của BLTTHS như chế định tố tụng điện tử thì điều đầu tiên là phải bổ sung một nguyên tắc mới của tố tụng hình sự để làm tư tưởng chỉ đạo, sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình tố tụng và là căn cứ để xây dựng các chế định liên quan đến các trình tự, thủ tục cụ thể giúp giải quyết vụ án hình sự. Nguyên tắc tố tụng điện tử là một phương thức giải quyết vụ án hình sự thông qua các hoạt động tố tụng trên môi trường số, không gian mạng theo các quy định của BLTTHS và các văn bản pháp luật liên quan, có ý nghĩa và giá trị giải quyết vụ án như các hoạt động tố tụng khác.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đồng tình với dự thảo BLTTHS tại Điều 18 có tên gọi mới là “Hoạt động tố tụng điện tử”, gồm ba khoản: (1) Hoạt động tố tụng điện tử có giá trị pháp lý. Việc thực hiện hoạt động tố tụng điện tử phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục, bảo đảm tính hợp pháp, xác thực, toàn vẹn, khả năng truy xuất, bảo mật, an ninh dữ liệu và không làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. (2) Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện hoạt động tố tụng điện tử trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. (3) Bảo đảm mọi văn bản tố tụng, biên bản, tài liệu khác liên quan đến vụ việc, vụ án được lập bằng phương thức điện tử phải được cập nhật và chuyển ngay trên hệ thống quản lý án hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Việc quy định nguyên tắc tố tụng điện tử sẽ khắc phục được việc quy định những trình tự, thủ tục tố tụng trong môi trường số, trên không gian mạng một cách rời rạc với những chế định đơn lẻ hoặc văn bản dưới luật. Đây là nền tảng cần thiết để xây dựng các chế định cụ thể và phù hợp với Luật Giao dịch điện tử năm 2023, đồng thời xác định phương thức tố tụng này có vị trí ngang bằng với các nguyên tắc đã được BLTTHS quy định như nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, suy đoán vô tội, tranh tụng hay độc lập xét xử, …
2. Chứng cứ điện tử và hoạt động thu tập, bảo quản, sử dụng chứng cứ điện tử
BLTTHS năm 2015 lần đầu tiên quy định dữ liệu điện tử được coi là một trong những nguồn chứng cứ được quy định tại khoản 1 Điều 87 (được giữ nguyên tại khoản 1 Điều 92 dự thảo BLTTHS). Việc quy định dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ có tác dụng giúp các chủ thể tố tụng nhìn nhận, đánh giá về vụ án và các tình tiết có liên quan một cách đầy đủ, chính xác, khách quan hơn, đảm bảo thuộc tích hợp pháp của các chứng cứ được thu thập từ nguồn đặc biệt này. Bên cạnh đó, trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự bùng nổ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông chi phối tất cả các hoạt động của đời sống xã hội và các thiết bị công nghệ được phát triển với số lượng và quy mô chưa từng có. Đồng thời, việc thu thập chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử khác hẳn với thu thập thông thường trong những trường hợp phục hồi dữ liệu điện tử đã bị xóa, thu trên đường truyền, thu dữ liệu điện từ trong các phần mềm, thu dữ liệu điện tử có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), chứng cứ được thu thập từ dữ liệu điện tử đám mây (iCloud) khi thiết bị điện tử không còn nữa… Từ đó, giúp các chủ thể tố tụng tranh tụng một cách toàn diện và đưa ra những quyết định, hành vi tố tụng được chính xác, thuyết phục đối với các chủ thể tố tụng khác.
Xét về bản chất, chứng cứ nói chung và chứng cứ được thu thập từ nguồn dữ liệu điện tử (chứng cứ điện tử) đều bắt buộc phải có đầy đủ ba thuộc tính khách quan, liên quan và hợp pháp. Đây là những thông tin có được từ nguồn dữ liệu điện tử mà nó có khả năng truyền tải thông tin phản ánh về hành vi phạm tội đã xảy ra trong quá khứ, những vấn đề liên quan đến hành vi phạm tội. Với những thông điệp truyền tải thông tin điện tử này giúp những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người khác có thể nhận biết được về hành vi phạm tội trong quá khứ thông qua năm giác quan chính (thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác, vị giác). Nếu không phải là người khuyết tật thì mọi người đều có thể nhận biết và nhận thức giống nhau. Do vậy, chứng cứ điện tử bắt buộc phải được khai thác từ nguồn dữ liệu điện tử, nhưng có nguồn dữ liệu điện tử chưa chắc đã có chứng cứ điện tử, bởi chứng cứ điện tử chỉ có thể khai thác được từ nguồn dữ liệu điện tử nếu có một thiết bị điện tử thích hợp, một phần mềm tương thích với thiết bị và có người biết sử dụng thiết bị điện tử. Khi đó các dữ liệu điện tử sẽ truyền tải tín hiệu điện tử tới giác quan con người bằng các thông điệp truyền tải thông tin điện tử là các chữ viết, chữ số, ký hiệu, ký tự, âm thanh, hình ảnh hoặc dạng tương tự. Hay nói cách khác, chứng cứ điện tử chính là những thông tin về sự kiện pháp lý hình sự đã xảy ra trong quá khứ được biểu hiện dưới dạng thông điệp giao tiếp có thuộc tính khách quan, liên quan, hợp pháp. Được các chủ thể tiến hành, tham gia tố tụng xem xét, đánh giá, từ đó hình thành những quan điểm, kết luận, quyết định trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự. Tất cả những dữ liệu điện tử mà chỉ một chủ thể hoặc một số chủ thể đặc biệt mới có khả năng nhận thức hay không thể chuyển tải dưới dạng thông điệp giao tiếp thông thường thì không phải là chứng cứ.
Hiện tại, trong các văn bản pháp lý của Việt Nam khái niệm “Chứng cứ điện tử” (electronic evidence) hay “Chứng cứ điện tử kỹ thuật số” (digital evidence) không được đề cập và thuật ngữ này cũng không được sử dụng rộng rãi mà chủ yếu được sử dụng trong văn nói, việc giảng dạy khoa học pháp lý và một số công trình nghiên cứu. Chúng tôi cho rằng, BLTTHS trong lần pháp điển hóa này nên quy định “Chứng cứ điện tử” là chứng cứ được thu thập từ nguồn dữ liệu điện tử để phù hợp với luật pháp quốc tế và quy định của nhiều quốc gia khác. Vì chứng cứ được khai thác từ nguồn dữ liệu điện tử có những thuộc tính rất khác so với chứng cứ từ nguồn chứng cứ khác. Như việc nó được thu thập trên môi trường số, không gian mạng nên ngay từ khi hình thành nó đã là thực tế ảo, phản ánh về thực tại khách quan chứ không phải thực tại khách quan, việc kiểm chứng không giống như cách thông thường, tồn tại một khoảng thời gian hữu hạn trên không gian mạng, nếu dưới dạng số thì phải có phần mềm, thiết bị và con người biết sử dụng mới nhận biết được hoặc cũng có thể hình thành do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra theo các quy định của BLTTHS… Do vậy, chúng tôi cho rằng, cũng cần đưa ra khái niệm chứng cứ điện tử để tránh việc nhận thức nhầm lẫn giữa chứng cứ điện tử và dữ liệu điện tử[3]
Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 99 BLTTHS năm 2015 (được giữ nguyên tại khoản 1, khoản 2 Điều 104 dự thảo BLTTHS) thì: “1. Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. 2. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác”. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng các ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự mà con người có thể nhận biết được thông qua các thiết bị, phương tiện điện tử, phần mềm thích hợp cùng với con người biết sử dụng thiết bị, phương tiện điện tử, phần mềm. Dữ liệu điện tử được định dạng, lưu trữ trong các thiết bị tương ứng với các đơn vị bộ nhớ là bits, bytes…, có khả năng tạo ra các tín hiệu điện tử mà ở trạng thái tự nhiên chúng ta không thể nhìn thấy, nghe thấy hoặc nhận biết những dữ liệu trong các thiết bị chứa đựng nó. Ví dụ: Bộc lộ một thẻ nhớ bằng trực quan chúng ta không thể thấy được hình ảnh, âm thanh, ký tự… nhưng khi lắp vào máy tính, sử dụng phần mềm thích hợp do người có khả năng sử dụng thiết bị, phương tiện điện tử và phần mềm để đọc thẻ nhớ thì sẽ tạo ra các tín hiệu điện tử, khi tác động vào các giác quan của con người sẽ giúp nhận biết được các âm thanh, hình ảnh, ký tự… Bên cạnh đó, chỉ cần thiếu một trong ba yếu tố (thiết bị điện tử thích hợp, phần mềm thích hợp, người có khả năng sử dụng) thì con người sẽ không thể thấy hay nhận biết được các thông điệp điện tử truyền tải thông tin dưới dạng chữ viết, chữ số, ký hiệu, âm thanh, hình ảnh hoặc dạng tương tự.
Theo quy định tại Điều 3 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 thì:
- Phương tiện điện tử là phần cứng, phần mềm, hệ thống thông tin hoặc phương tiện khác hoạt động dựa trên công nghệ thông tin, công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ khác tương tự.
- Dữ liệu điện tử là dữ liệu được tạo ra, xử lý, lưu trữ bằng phương tiện điện tử.
Trong khi đó, khoản 1 Điều 104 dự thảo BLTTHS vẫn giữ nguyên khái niệm dữ liệu điện tử của BLTTHS năm 2015, chưa thống nhất với Luật Giao dịch điện tử năm 2023. Như vậy, để thống nhất giữa Luật giao dịch điện tử và BLTTHS thì khoản 1 Điều 104 dự thảo BLTTHS cần được sửa đổi như sau:
“Dữ liệu điện tử là dữ liệu được tạo ra, xử lý, lưu trữ bằng phương tiện điện tử. Phương tiện điện tử là phần cứng, phần mềm, hệ thống thông tin hoặc phương tiện khác hoạt động dựa trên công nghệ thông tin, công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ khác tương tự. Dữ liệu điện tử có khả năng tạo ra thông điệp truyền tải thông tin điện tử dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự”.
Khoản 3 Điều 99 BLTTHS năm 2015 (được giữ nguyên tại khoản 3 Điều 104 dự thảo BLTTHS) quy định: “Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác”. Như vậy, tiêu chí xác định giá trị của chứng cứ sẽ khiến những người sử dụng chứng cứ rất khó đánh giá bởi không thể biết được đâu là chứng cứ có giá trị cao, thấp hay ngang bằng nhau khi so sánh giá trị với nhau để sử dụng tranh tụng, buộc tội, gỡ tội hay kết tội hoặc làm căn cứ để đưa ra các quyết định, xử sự, hành vi tố tụng khác. Chúng tôi cho rằng, giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử có điều kiện tiên quyết là phải hợp pháp, nếu thông tin không hợp pháp thì không bao giờ trở thành chứng cứ. Ngoài ra, để xác định chứng cứ nào có giá trị trong giải quyết vụ việc, vụ án hơn chứng cứ nào thì phải được đánh giá dựa vào tiêu chí khách quan, liên quan thông qua việc xem xét vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố khác.
Vì dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ đặc biệt và luôn gắn với phương tiện điện tử nên Điều 107 BLTTHS 2015 (được kế thừa tại Điều 118 dự thảo BLTTHS) quy định phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi thu giữ. Việc niêm phong, mở niêm phong được tiến hành theo quy định của pháp luật. Trường hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện điện tử và bảo quản như đối với vật chứng. Đồng thời yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã sao lưu và cơ quan, tổ chức, cá nhân này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Khi thu thập, chặn thu, sao lưu dữ liệu điện tử từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên đường truyền, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Khi nhận được quyết định trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử. Việc phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử chỉ được thực hiện trên bản sao; kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải chuyển sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được. Phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được bảo quản như vật chứng. Khi xuất trình chứng cứ là dữ liệu điện tử phải kèm theo phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc bản sao dữ liệu điện tử.
Với quy định này (được giữ nguyên tại khoản 5 Điều 118 dự thảo BLTTHS), chúng tôi thấy rằng vẫn có những hạn chế đó là, chỉ có thể bảo quản phương tiện điện tử như bảo quản vật chứng chứ không thể bảo quản dữ liệu điện tử như bảo quản vật chứng được, vì không thể niêm phong dữ liệu điện tử, không thể đưa vào kho dữ liệu điện tử mà không có thiết bị lưu trữ… Mặt khác, dữ liệu điện tử có thể sử dụng mật khẩu, bắt buộc người dùng phải có mật khẩu mới đọc được nội dung và bảo quản tại các nhà cung cấp dịch vụ bằng công nghệ điện toán đám mây (cloud computing), khi bảo quản tránh việc bị vi rút máy tính làm hỏng nội dung vốn có hoặc có thể sử dụng giá trị hàm Băm (hash function) để chứng minh tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử.
Chúng tôi cho rằng, khoản 5 Điều 118 dự thảo BLTTHS cần bổ sung quy định: “Việc bảo quản dữ liệu điện tử được thực hiện bằng việc niêm phong cùng các thiết bị điện tử, phương tiện điện tử hoặc các cách thức bảo quản khác có khả năng bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử và bảo đảm khả năng khai thác thông tin khi cần thiết”.
Việc bổ sung các tiêu chí đánh giá đối với chứng cứ điện tử là cần thiết và quy định bổ sung phải bảo đảm thống nhất với quy định Điều 11 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 về nội dung xác định giá trị dùng làm chứng cứ của thông điệp dữ liệu điện tử phải căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, gửi, nhận, lưu trữ và cách thức bảo đảm, duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu điện tử. Việc không bổ sung những nội dung này sẽ tạo ra khoảng trống tác động trực tiếp đến hoạt động xét xử. Bởi khi thiếu các tiêu chí pháp lý trong việc lưu giữ và siêu dữ liệu, nếu gặp phải trường hợp bị cáo phản cung và cho rằng đoạn ghi âm, tin nhắn hay lịch sử giao dịch trong hồ sơ đã bị cắt ghép thì Hội đồng xét xử chưa có quy định cụ thể, thống nhất về quy trình và tiêu chí kiểm tra kỹ thuật để yêu cầu xuất trình nhật ký thu thập, giá trị “Băm” của dữ liệu gốc hay biên bản niêm phong, bản ảnh chứng minh. Khi đó, Hội đồng xét xử sẽ đứng trước hai phương án đều không tối ưu là chấp nhận dữ liệu dựa trên biên bản thu giữ mang tính hình thức, hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Do đó, cần bổ sung vào Điều 104 dự thảo BLTTHS một khoản quy định riêng về các yếu tố bắt buộc phải được ghi nhận và kiểm tra khi đánh giá dữ liệu điện tử như: nguồn, phương pháp, thời điểm thu thập và người thực hiện, biện pháp kiểm tra tính toàn vẹn (giá trị hàm “Băm” hoặc phương pháp kỹ thuật tương đương), siêu dữ liệu, lịch sử truy cập, sao chép, chuyển đổi, công cụ kỹ thuật được sử dụng và khả năng tái lập quá trình kiểm tra. Đối với dữ liệu do hệ thống tự động, thuật toán hoặc trí tuệ nhân tạo tạo ra, phải bảo đảm khả năng xác định nguồn, kiểm chứng độ tin cậy, sai số và quyền tiếp cận, phản bác của các bên. Đây là điều kiện tối thiểu để Hội đồng xét xử thực hiện nghĩa vụ kiểm tra, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa. Đồng thời, bổ sung quy định về cách thức lưu trữ, bảo toàn dữ liệu lưu trữ có thể thực hiện trên nền tảng điện toán đám mây hoặc máy chủ đặt ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Điều 201 BLTTHS 2015 về khám nghiệm hiện trường quy định: “Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án”. Khoản 1 Điều 218 dự thảo BLTTHS vẫn giữ nguyên quy định này. Chúng tôi cho rằng, quy định này cũng cần có thay đổi vì dữ liệu điện tử có thể thu được ở đám mây (iCloud), đường truyền, phần mềm, trên không gian mạng…
Ngoài ra, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 cũng có nhiều quy định khác liên quan đến dữ liệu điện tử mà thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự có thể vận dụng và cần được bổ sung trong dự thảo BLTTHS như: quy định về hình thức thể hiện của thông điệp dữ liệu điện tử gồm hình thức văn bản điện tử, tài liệu điện tử, chứng thư điện tử, chứng từ điện tử, hợp đồng điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và hình thức trao đổi dữ liệu điện tử khác theo quy định của pháp luật. Thông điệp dữ liệu được tạo ra, phát sinh trong quá trình giao dịch hoặc được chuyển đổi từ văn bản giấy; giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu; thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu; thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc văn bản; thông điệp dữ liệu có giá trị dùng làm chứng cứ; chuyển đổi hình thức giữa văn bản giấy và thông điệp dữ liệu; hình thức lưu trữ thông điệp dữ liệu... Như vậy, khác với chứng cứ truyền thống, chứng cứ điện tử có giá trị không chỉ đánh giá trên các tiêu chí khách quan, liên quan và hợp pháp mà còn xác định dựa thêm vào cả tiêu chí cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu điện tử và cách xác định của người khởi tạo thông điệp đó hoặc các yếu tố phù hợp khác.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đồng tình với quy định tại Điều 118 dự thảo BLTTHS vì quy định này giúp xác lập nghĩa vụ của tổ chức cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet, mạng xã hội, điện toán đám mây, lưu trữ dữ liệu, nền tảng số hoặc dịch vụ trực tuyến khác tại Việt Nam trước yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng về thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử.
3. Hồ sơ vụ án điện tử
Để có thể tiến hành tố tụng bằng các dữ liệu kỹ thuật số, sử dụng không gian mạng giải quyết vụ án hình sự và xét xử trực tuyến thì việc quy định về hồ sơ điện tử đối với vụ án hình sự là nội dung thiết yếu và cơ bản. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 chưa quy định vấn đề này mà chỉ quy định hồ sơ vụ án được lập bằng văn bản giấy hoặc được số hóa theo quy định (khoản 5 Điều 131). Khoản 5 Điều 143 dự thảo BLTTHS đã bổ sung quy định hồ sơ vụ việc, vụ án được lập, quản lý và lưu trữ dưới dạng điện tử; tài liệu được lập bằng văn bản giấy phải được số hóa; hồ sơ vụ việc, vụ án điện tử có mã quản lý duy nhất và được chia sẻ liên thông trên hệ thống quản lý án hình sự. Chúng tôi đồng tình với quy định này, tuy nhiên dự thảo BLTTHS chưa đưa ra khái niệm hồ sơ vụ án điện tử. Do vậy, chúng tôi cho rằng, lần pháp điển BLTTHS này cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện quy định này. Hồ sơ vụ án điện tử là những dữ liệu điện tử có khả năng truyền tải thành thông tin mang thông điệp giao tiếp điện tử, chứa đựng chứng cứ điện tử được các cơ quan có thẩm quyền tố tụng thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định phản ánh hồ sơ được lập bằng văn bản giấy được số hóa hoặc phương thức điện tử khác. Hồ sơ vụ án điện tử có một mã duy nhất và được chia sẻ, liên thông dữ liệu giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và không bị thay đổi những dữ liệu gốc, có khả năng kiểm chứng tính nguyên vẹn của dữ liệu điện tử trong suốt quá trình tố tụng và lưu trữ. Như vậy, có ba yêu cầu pháp lý bắt buộc đối với hồ sơ điện tử đó là: số hóa bắt buộc đối với hồ sơ lập bằng bản giấy, định danh hồ sơ bằng một mã duy nhất và chia sẻ, liên thông dữ liệu. Các yêu cầu này về cơ bản đã được thể hiện tại khoản 5 Điều 143 dự thảo BLTTHS. Bên cạnh đó, dự thảo BLTTHS cũng cần quy định việc xây dựng hồ sơ gốc khi hồ sơ tồn tại đồng thời dưới dạng giấy và dạng số, cũng như cách xử lý trong trường hợpgiữa hai dạng có khác biệt; xác định chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý về tính toàn vẹn của hồ sơ điện tử trong từng giai đoạn tố tụng; quy định về thẩm quyền bổ sung vào chính hồ sơ, tài liệu, dữ liệu điện tử do Tòa án thực hiện trong giai đoạn xét xử. Với quy định hồ sơ vụ án điện tử, thì quyền tiếp cận hồ sơ của những người tham gia tố tụng vẫn có thể theo mô hình truyền thống là đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa.
Để có thể xây dựng được hồ sơ vụ án điện tử thì cũng cần có thêm quy định đối với việc xác lập nghĩa vụ cung cấp dữ liệu điện tử của tổ chức cung cấp dịch vụ số. Đoạn 2 khoản 2 Điều 118 dự thảo BLTTHS mới xác lập nghĩa vụ này đối với tổ chức cung cấp dịch vụ và tổ chức, cá nhân khác tại Việt Nam. Khi quy định này được bổ sung sẽ tạo cơ sở pháp lý xác định nghĩa vụ hợp tác của các tổ chức cung cấp dịch vụ xuyên biên giới… trong việc cung cấp dữ liệu điện tử phục vụ hoạt động tố tụng hình sự[4]. Cùng với quy định về hồ sơ vụ án điện tử, cần bổ sung thêm quy định đối với nhật ký truy cập hồ sơ điện tử và trong hồ sơ vụ án điện tử thì nhật ký truy cập phải là tài liệu bắt buộc, được lưu vết không thể sửa đổi và được cung cấp khi có yêu cầu của Tòa án hoặc người bào chữa. Cùng với đó là quyền của Tòa án trong việc bổ sung tài liệu, chứng cứ do mình thu thập trong giai đoạn xét xử vào hồ sơ vụ án điện tử.
4. Văn bản tố tụng và tống đạt điện tử
Để triển khai thực hiện nguyên tắc tố tụng điện tử, trên cơ sở đã quy định về chứng cứ điện tử, hồ sơ điện tử thì việc hình thành các văn bản tố tụng điện tử trong môi trường số, trên không gian mạng là tất yếu. Sau khi có văn bản tố tụng điện tử thì việc tống đạt các văn bản này thông qua mạng máy tính, mạng viễn thông tới các địa chỉ IP (địa chỉ thiết bị điện tử có khả năng truy cập Internet) xác định hoặc thông qua mạng viễn thông tới các địa chỉ nằm trong cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia sẽ giúp rút ngắn thời gian tống đạt, giảm đáng kể các chi phí tố tụng và tạo ra sự minh bạch, chính xác, nhanh chóng khi giải quyết các vụ án hình sự. Với tinh thần đó, chúng tôi cho rằng BLTTHS khi pháp điển lần này cần bổ sung quy định về chữ ký điện tử với ý nghĩa là “Chữ ký trực tiếp như cách thông thường trên thiết bị điện tử có khả năng nhận diện hoặc chữ ký số được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền”.
Biên bản điện tử là “Biên bản được lập bằng văn bản giấy có chữ ký điện tử hoặc phương thức điện tử theo quy định của pháp luật”. Bên cạnh đó, chúng tôi đồng tình với việc dự thảo BLTTHS đã bổ sung phương thức “cấp, giao, chuyển bằng phương thức điện tử” bên cạnh các phương thức trực tiếp, bưu chính, niêm yết và thông báo công khai (điểm b khoản 1 Điều 149 và Điều 155 dự thảo BLTTHS). Mặc dù điểm d khoản 1 Điều 137 BLTTHS năm 2015 quy định cho phép thông báo công khai văn bản tố tụng qua nền tảng số, phần mềm ứng dụng dùng chung tại Trung tâm dữ liệu quốc gia hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng, tuy nhiên, đó là phương thức thông tin đại chúng, chỉ áp dụng khi niêm yết công khai không có kết quả, không phải tống đạt đến đích danh người được nhận. Việc cấp, giao, chuyển văn bản tố tụng cho chính người được nhận bằng phương thức điện tử. Kết hợp với chữ ký số và biên bản điện tử, toàn bộ chu trình ban hành, ký và giao nhận có thể diễn ra trên môi trường số. Khoản 3 Điều 155 dự thảo BLTTHS đã xác định thời điểm hoàn thành việc cấp, giao, chuyển văn bản tố tụng bằng phương thức điện tử là thời điểm văn bản tố tụng điện tử được nhập vào hệ thống quản lý án hình sự, ứng dụng định danh điện tử quốc gia hoặc hệ thống thông tin khác. Tuy nhiên, cách xác định này mới gắn với thời điểm hệ thống gửi đi, chưa gắn với thời điểm văn bản đến địa chỉ điện tử của người nhận hay thời điểm người nhận mở văn bản. Do vậy, dự thảo BLTTHS cần bổ sung cơ chế ghi nhận thời điểm người nhận truy cập văn bản để bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng.
5. Xét xử trực tuyến
Khoản 1 Điều 136 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 lần đầu tiên ghi nhận việc Tòa án xét xử bằng phương thức trực tuyến trong một đạo luật, bên cạnh phương thức xét xử trực tiếp truyền thống[5]. Theo số liệu tổng kết công tác của Tòa án nhân dân tối cao, năm 2024 các Tòa án đã xét xử trực tuyến 20.302 vụ việc và năm 2025 là 16.383 vụ việc[6]. Như vậy, xuất phát từ cơ sở chính trị và thực tiễn đòi hỏi phải hoàn thiện BLTTHS với các quy định cụ thể liên quan trực tiếp đến việc xét xử trực tuyến, bên cạnh thủ tục xét xử trực tiếp như hiện nay.
Dự thảo BLTTHS đã giải thích khái niệm phiên tòa trực tuyến (điểm r khoản 1 Điều 4), xác định Tòa án nhân dân có thể tổ chức phiên tòa trực tuyến để xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự (khoản 1 Điều 268) và quy định trường hợp xét xử trực tuyến thì quyết định đưa vụ án ra xét xử phải nêu rõ điểm cầu trung tâm và điểm cầu thành phần (điểm c khoản 1 Điều 273), qua đó thể hiện việc “luật hóa văn bản pháp luật về phiên tòa trực tuyến”[7]. Đồng thời, dự thảo vẫn tiếp tục khẳng định nguyên tắc “Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục” (Điều 267). Chúng tôi đồng tình với các quy định này.
Nghị quyết số 33/2021/QH15 quy định giới hạn xét xử trực tuyến ở các vụ án có tình tiết, tính chất đơn giản, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án rõ ràng, đồng thời loại trừ ba nhóm là vụ án liên quan đến bí mật nhà nước, vụ án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, vụ án về các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh[8]. Khoản 2 Điều 268 dự thảo BLTTHS không còn giới hạn ở các vụ án có tình tiết, tính chất đơn giản nhưng tiếp tục kế thừa ba trường hợp loại trừ nêu trên. Chúng tôi đồng tình với việc mở rộng phạm vi các vụ án được xét xử trực tuyến trong tình hình mới, nhưng cũng cần chú ý không mở rộng đối với tất cả các vụ án mà cần loại trừ đối với các vụ án để bảo đảm tính chất an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước và bảo vệ bí mật đời tư cá nhân hoặc trong những trường hợp cần thiết khác. Bên cạnh đó, dự thảo BLTTHS cũng cần quy định thẩm quyền và thời điểm quyết định áp dụng hình thức phiên tòa trực tuyến, quyền của người tham gia tố tụng trong việc đề nghị thay đổi phương thức tổ chức phiên tòa, thành phần bắt buộc tại các điểm cầu, việc kiểm tra thông tin nhân thân của những người tham gia phiên tòa trực tuyến, các bảo đảm để bị cáo được trao đổi riêng và bảo mật với người bào chữa. Việc lập biên bản phiên tòa khi có nhiều điểm cầu, nội quy phiên tòa tại điểm cầu thành phần và cách thức xem xét vật chứng tại phiên tòa, quy định về việc tạm ngừng phiên tòa trực tuyến khi đường truyền gián đoạn hoặc tiếng và hình không đồng bộ khiến việc theo dõi liên tục tại các điểm cầu không còn được bảo đảm, dù không ai vắng mặt. Các nội dung này hiện chưa được thể hiện tại các điều 269, 274 và 276 dự thảo BLTTHS về tạm ngừng phiên tòa, nội quy phiên tòa và biên bản phiên tòa.
Kết luận
Với những luận giải trên đây cho thấy việc hoàn thiện chế định liên quan đến tố tụng điện tử nói chung và hoạt động xét xử của Tòa án nói riêng trong lần pháp điển hóa BLTTHS này là việc không đơn giản và thực sự cần thiết. Tuy nhiên, với nhiều khoảng trống đặt ra so với BLTTHS hiện hành và dự thảo BLTTHS thì việc hoàn thiện không chỉ là yêu cầu kỹ thuật lập pháp, mà còn là điều kiện bảo đảm vị thế, thẩm quyền của Tòa án và tính độc lập của Thẩm phán trong nền tư pháp đang chuyển đổi số.
[1] Khoản 1 Điều 136 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024; điều kiện tổ chức phiên tòa trực tuyến do pháp luật quy định. Về nhiệm vụ xây dựng Tòa án điện tử, xem Điều 148 Luật này.
[2] Mục 3.4 Tờ trình số 35/TTr-VKSTC ngày 23/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) (sau đây viết tắt là Tờ trình 35).
[3] Xem: Nguyễn Đức Hạnh, Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến chứng cứ và chứng cứ điện tử,Tạp chí Kiểm sát số chuyên đề năm 2026, tr.16-23.
[4] Mục 3.4 Tờ trình 35, tlđd.
[5] Khoản 1 Điều 136 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024; điều kiện tổ chức phiên tòa trực tuyến do pháp luật quy định. Về nhiệm vụ xây dựng Tòa án điện tử, xem Điều 148 Luật này.
[6] Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Hồng – Đinh Thị Như Phượng, Luật hóa xét xử trực tuyến trong tố tụng hình sự – Từ thực tiễn đến đề xuất hoàn thiện, https://tapchitoaan.vn/luat-hoa-xet-xu-truc-tuyen-trong-to-tung-hinh-su-tu-thuc-tien-den-de-xuat-hoan-thien16114.html, truy cập ngày 09/10/2026; dẫn lại số liệu Báo cáo tổng kết công tác năm 2024 và năm 2025 của Tòa án nhân dân tối cao.
[7] Mục 3.4 Tờ trình 35, tlđd.
[8] Điều 1 Nghị quyết số 33/2021/QH15, tlđd.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
-
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
-
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.
-
Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15).
-
Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15.
-
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15.
-
Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến; Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 15/12/2021.
-
Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) ngày 15/10/2026 và Bảng so sánh dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) với Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành ngày 15/10/2026.
-
Tờ trình số 35/TTr-VKSTC ngày 23/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi).
-
Báo cáo số 75/BC-VKSTC của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự và các Phụ lục kèm theo.
-
Báo cáo thẩm tra dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội.
-
Công văn góp ý của Tòa án nhân dân tối cao đối với dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi).
-
Nguyễn Đức Hạnh, Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến chứng cứ và chứng cứ điện tử, Tạp chí Kiểm sát số chuyên đề năm 2026.
-
Nguyễn Thị Kim Hồng – Đinh Thị Như Phượng, Luật hóa xét xử trực tuyến trong tố tụng hình sự – Từ thực tiễn đến đề xuất hoàn thiện, https://tapchitoaan.vn/luat-hoa-xet-xu-truc-tuyen-trong-to-tung-hinh-su-tu-thuc-tien-den-de-xuat-hoan-thien16114.html , truy cập ngày 09/10/2026.
Bài liên quan
-
Đột phá chuyển đổi số, xây dựng Tòa án điện tử - yêu cầu cấp thiết trong xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại
-
“Niềm tin Công lý” chính thức lên sóng VTV1: Tòa án điện tử mở rộng cánh cửa tiếp cận công lý
-
Thu thập và đánh giá chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện
-
Luật hóa xét xử trực tuyến trong tố tụng hình sự - Từ thực tiễn đến đề xuất hoàn thiện
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TỐ TỤNG ĐIỆN TỬ TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Improving the legal framework for eletronic procedures in criminal adjudication -
Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú không bắt buộc phải mở phiên họp việc dân sự
-
VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TẠI DỰ THẢO BỘ LUẬT HÌNH SỰ (SỬA ĐỔI) THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW NGÀY 30/4/2025 CỦA ĐẢNG
Circumstances excluding criminal responsibility in the Draft Penal Code (amended) in accordance with Resolution No. 66-NQ/TW dated 30 April 2025 of the Party -
PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ VÀ THẨM QUYỀN KHÁC CỦA TÒA ÁN TRONG HỆ THỐNG TÒA ÁN 03 CẤP
Determining the jurisdiction and other competeneces of Courts the three-tier Court system -
GIỚI HẠN XÉT XỬ, TRÁCH NHIỆM CHỨNG MINH VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LIMITS OF TRIAL, BURDEN OF PROOF AND THE COURT’S ROLE IN RELATION TO DOCUMENTS AND
Bình luận