VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TẠI DỰ THẢO BỘ LUẬT HÌNH SỰ (SỬA ĐỔI) THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW NGÀY 30/4/2025 CỦA ĐẢNG
Circumstances excluding criminal responsibility in the Draft Penal Code (amended) in accordance with Resolution No. 66-NQ/TW dated 30 April 2025 of the Party
(TCTA) - Xuất phát từ tư tưởng chính trị - pháp lý mang tính chỉ đạo lâu dài của Đảng cầm quyền qua các luận điểm tại văn bản có giá trị nhất từ trước đến nay liên quan đến hoạt động lập pháp về sự cần thiết phải khắc phục “những điểm nghẽn” trong xây dựng pháp luật hình sự, nội dung bài viết tập trung vào việc phân tích khoa học những nhược điểm chỉ riêng về kỹ thuật lập pháp của các quy phạm tại Chương IV trong Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) (phiên bản tháng 9/2026 và ngày 09/10/2026), để từ đó, đưa ra những kiến giải cụ thể về mặt lập pháp hình sự nhằm hoàn thiện chỉ các quy phạm này theo đúng như tinh thần đã được chỉ rõ tại Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị “Về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”. Abstract: Stemming from the long-term guiding political-legal ideology of the ruling Party expressed through paramount viewpoints in the most authoritative document to date concerning legislative activities on the necessity of resolving "bottlenecks" in penal law-making, the article focuses on a scholarly analysis of the drawbacks exclusively regarding legislative drafting techniques in the provisions of Chapter IV of the Draft Penal Code (amended) (September 2026 version and 9 October 2026 version). On that basis, it puts forward specific criminal legislative recommendations to improve solely these provisions in strict accordance with the spirit articulated in the Resolution No. 66-NQ/TW dated 30 April 2025, of the Politburo on "Innovating law-making and law enforcement to meet the requirements of national development in the new era”.
Đặt vấn đề
Khi tìm hiểu các chủ trương về hoàn thiện pháp luật nói chung (bao gồm cả pháp luật hình sự (PLHS))với tư cách là nhiệm vụ trọng tâm của hoàn thiện thể chế hiện nay mà Đảng đã đưa ra, chúng ta có thể nhận thấy, đây chính là sự thừa kế quan điểm rất tốt từ hàng chục năm trước đó. Bởi lẽ:
Ngay từ 35 năm trước đây (tức vào năm 1991), chủ trương “hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật”mà Đảng đã đưa ra trong kỷ nguyên đương đại, chính là sự kế tục có tính logic và chính xác một loạt các luận điểm tiến bộ vì nước, vì dân mà lần đầu tiên đã được cố Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW) Đảng khóa VII (1991-1997), đồng chí Đỗ Mười nêu lên trong bài phát biểu ngày 29/11/1991 tại Hội nghị Trung ương lần thứ hai BCHTW Đảng khóa VII là: “Nhà nước pháp quyền..., phải được xây dựng đầy đủ với tính pháp quyền cả trên ba mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cần sớm khắc phục sự yếu kém về pháp luật hiện hành, như tình trạng thiếu hệ thống, không đầy đủ và lạc hậu so với cuộc sống... phải tích cực nghiên cứu, sửa đổi, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật”3.
Và đúng 36 năm sau (kể từ ngày 30/4/2025 đến nay), tại năm (05) văn bản quan trọng mang tính chỉ đạo lâu dài của Đảng (mà ở các mức độ khác nhau có liên quan pháp luật), kể cả PLHS (gồm 01 văn bản trong năm 2025 và 04 văn bản trong năm 2026 này)[4] đã lần lượt ghi nhận một số quan điểm cơ bản tuyệt vời như (tại 05 luận điểm dưới đây các từ được in đậm là tác giả nhấn mạnh để chúng ta đặc biệt lưu ý- LC):
(1) Phải coi công tác xây dựng pháp luật là “đột phá của đột phá” khi hoàn thiện thể chế và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, đồng thời cũng là một nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là:.... khắc phục những rào cản do quy định của pháp luật; xác định xây dựng pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt,... thường xuyên đánh giá hiệu quả pháp luật sau ban hành, tháo gỡ nhanh nhất những “điểm nghẽn” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật...”.
(2) “Xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong các trường hợp không có yếu tố tham nhũng, vụ lợi”.
(3) “Phát huy vai trò dẫn dắt, “đi trước mở đường” của pháp luật”.
(4) “Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật... nhằm tháo gỡ kịp thời các nút thắt, điểm nghẽn...”.
(5) “Kịp thời sửa đổi Bộ luật Hình sự... Xác định tiêu chí, điều kiện chặt chẽ để loại trừ trách nhiệm hình sự... ”.
Trên cơ sở lĩnh hội 05 luận điểm tuyệt vời trên của Đảng, tiếp theo dưới đây, tác giả đưa ra sự phân tích khoa học chủ đề được nghiên cứu của bài viết.
1. Về hệ thống của các quy phạm tại Chương IV Dự thảo Bộ luật Hình sự
Việc phân tích khoa học hệ thống của các quy phạm cụ thể trong Dự thảo BLHS (sửa đổi) cho thấy một số đặc điểm cơ bản dưới đây:
Dự thảo về cơ bản vẫn giữ nguyên cơ cấu (và cả về nội dung) các quy phạm tại 06 điều luật (từ Điều 22 đến Điều 27) của Chương IV BLHS năm 2015 hiện hành (mà nếu so sánh với PLHS trước đây, thì đã có nhiều ưu điểm hơn so với các quy phạm tương ứng trong BLHS năm 1999).
Tuy nhiên, cũng có một vài sự khác biệt so với PLHS hiện hành, cụ thể như sau:
Thứ nhất, tại Điều 25 BLHS năm 2015 hiện hành (tức Điều 26 Dự thảo) có một số sửa đổi, bổ sung (SĐBS) cụ thể cả trong tiêu đề, cũng như trong nội dung của Điều luật này (như đã nêu trong Dự thảo).
Thứ hai, tiếp theo Điều 27 BLHS năm 2015 hiện hành, trong Dự thảo có bổ sung thêm một (01) Điều 28 mới hoàn toàn mà về cơ bản, suy cho cùng, theo quan điểm của tác giả, thì bản chất pháp lý (BCPL) của các quy phạm tại Điều luật mới này cũng giống như BCPL chung của 02 điều (24-26) trong BLHS năm 2015 hiện hành, nhưng chỉ là trường hợp riêng biệt để làm rõ và nhấn mạnh hơn các khách thể về an ninh, quốc phòng (nên dưới đây sẽ không bàn về Điều này).
Thứ ba, nếu căn cứ vào các luận điểm cơ bản mang tính chỉ đạo của Đảng đã nêu trên đây (mà ở các mức độ khác nhau, có liên quan đến sự cần thiết phải hoàn thiện PLHS) thì vẫn còn thiếu 02 điều luật nữa là: (1) Một điều để khẳng định BCPL hình sự chung và hệ thống (để liệt kê tiêu đề/tên gọi của từng trường hợp trong hệ thống); (2) Một điều về 01 trường hợp nữa, mà hành vi được thực hiện cũng không có tính tội phạm, nên theo logic, thì trách nhiệm hình sự (TNHS) của người thực hiện hành vi cũng không thể có (tức TNHS được loại trừ). Nếu trường hợp này được bổ sung, sẽ tạo điều kiện thuận lợi thêm cho các chiến sỹ trong các lực lượng vũ trang và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, khi họ bị tội phạm tấn công mãnh liệt và ở trong tình trạng bất khả kháng (tức không thể kháng cự lại được) nên buộc phải hành động để chống lại tội phạm.
2. Về kỹ thuật lập pháp của các quy phạm tại Chương IV Dự thảo Bộ luật Hình sự (cũng như của Bộ luật Hình sự năm 2015)
Việc nghiên cứu dưới góc độ kỹ thuật lập pháp (KTLP) hình sự cho thấy, nếu xem xét một cách sâu sắc, nghiêm túc và kỹ càng, thì thấy rằng, các quy phạm được xem xét trong Dự thảo tháng 9/2026 cũng chưa thể khắc phục được 02 hạn chế nhỏ tại Chương IV BLHS năm 2015 hiện hành, bởi lẽ, vẫn còn thiếu 02 tiêu chí bắt buộc về KTLP của một văn bản LPHS (tức chưa chính xác về mặt khoa học và thiếu chặt chẽ về mặt cấu trúc) mà dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt phân tích.
Thứ nhất, về tiêu đề (tên gọi) của Chương IV “Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự”trong Dự thảo đã nêu cần được suy ngẫm cẩn trọng, để có thể lý giải được một cách sâu sắc về mặt khoa học trên 02 mặt bình diện (khía cạnh) dưới đây.
Về mặt logic hình thức, ở đây cho thấy, nhà làm luật cần phải sử dụng cặp phạm trù nào đó, để có thể lý giải được một cách đúng đắn và chính xác về mặt khoa học BCPL của 02 câu hỏi mang tính logic chặt chẽ tương ứng với 02 vế là: Vế thứ nhất (mệnh đề A) và vế thứ hai (mệnh đề B) của tiêu đề tại Chương IV Dự thảo đã nêu lần lượt sau dấu mũi tên (→) là:
(1) Mệnh đề A: “Những trường hợp” đó loại trừ “cái gì”, tức là, bản chất chung (và cốt lõi) của vấn đề mà nhà làm luật muốn được loại trừ trong những trường hợp này là “cái gì”?. Ví dụ: có đúng cái gì đó chính là “lỗi” , “tính chất”, “mức độ” nguy hiểm cho xã hội, “tính tội phạm”, v.v. hay “TNHS”(như chính tiêu đề được nêu của Chương IV); và sau khi đã có câu trả lời cho mệnh đề A rồi thì tiếp theo →
(2) Mệnh đề B: “Cái gì” đó là của ai (nếu là lỗi), của hành vi hay của hậu quả nào?; Tức là, suy cho cùng, những trường hợp đó loại trừ cái gì (?) và của ai (?). Ví dụ: của chủ thể hay của đối tượng nào?
Rõ ràng là, trong tiêu đề Chương IV Dự thảo (do vẫn giữ nguyên như của BLHS năm 2015) nên mới chỉ có thể trả lời được mệnh đề A (vế thứ nhất của tiêu đề Chương IV là loại trừ “TNHS” (và tiếp theo sau đó là dấu chấm hết)).
Nhưng rất tiếc là, mệnh đề B (của “cái gì”) trong tiêu đề Chương IV Dự thảo đã nêu, thì vẫn còn đang bị bỏ lửng (vì tiếp theo ngay sau thuật ngữ “TNHS” thì không còn từ nào cả) mà chưa hề có được câu trả lời, để góp phần làm rõ “TNHS” đó là của “ai”, của “hành vi” hay của “hậu quả” nào đó.
Như vậy, tiêu đề của Chương IV Dự thảo chưa khẳng định được một cách dứt khoát và rõ ràng, để có được câu trả lời chính xác về mặt khoa học BCPL chung của những trường hợp loại trừ được ghi nhận tại đó.
Chính cách bỏ lửng (mà chưa dứt khoát như vậy) là điều tối kỵ trong KTLP hình sự và vô cùng nguy hiểm, bởi lẽ: (1) Nếu xét về BCPL, thì đây chính là lĩnh vực có liên quan ở các mức độ khác nhau đến việc bảo vệ bằng PLHS các giá trị nhân thân của con người (như: các quyền và tự do, sinh mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm cá nhân); (2) Nó rất dễ dẫn đến sự tùy tiện, thiếu nhất quán trong cách lý giải vấn đề mà những ai quan tâm (từ những người dân, các luật sư, các cơ quan bảo vệ pháp luật như Công an, Kiểm sát, Tòa án) thì cứ “tự suy diễn” lấy, vì rõ ràng là cho đến nay, vẫn chưa hề có văn bản giải thích luật nào của Quốc hội, cũng như Nghị quyết nào riêng của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) hay Thông tư liên tịch với Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao chính thức làm rõ BCPL của tiêu đề Chương IV BLHS năm 2015 là gì (!).
Thứ hai, dưới góc độ học thuật và theo logic của vấn đề. Chúng ta cần phải có sự nhận thức rõ ràng và dứt khoát về hậu quả được “loại trừ” đó là của “ai” (?). Nhưng rõ ràng là, một khi đã dùng thuật ngữ “TNHS” để khẳng định hậu quả được loại trừ là “TNHS” tại vế thứ nhất (mệnh đề A) rồi thì chắc là tiếp theo sau đó → tại vế thứ hai (mệnh đề B) sẽ rất khó mà chắc chắn là không thể nào tìm được thuật ngữ sao cho thực sự đúng với BCPL và chính xác về mặt khoa học cho phù hợp (!). Bởi vì, không lẽ lại dùng thuật ngữ “TNHS” của “người phạm tội” (?), hoàn toàn không ổn (!), vì hành vi được thực hiện trong những trường hợp này hoàn toàn không phải và không thể là tội phạm, mà lại gọi chủ thể của hành vi ấy là “người phạm tội” thì rõ ràng là vô lý và không bảo đảm sức thuyết phục (!).
Do vậy, về mặt KTLP hình sự và nếu xét dưới khía cạnh bảo vệ bằng PLHS, các giá trị thuộc về nhân thân của con người (như đã nêu trên) tại vế thứ nhất (mệnh đề A), ta đã sử dụng phạm trù “TNHS”rồi, thì theo logic tiếp theo, → tại vế thứ hai (mệnh đề B) không nên và không thể bỏ lửng, mà nhất thiết phải đi đến tận cùng, để bổ sung thuật ngữ nào đó nữa cho đầy đủ, chứ không nên qua loa (im lặng) mà “bỏ lửng”. Vì cách làm này sẽ rất có thể tạo ra sự tùy tiện trong cách giải thích BCPL của Chương IV BLHS năm 2015.
Vì nếu nhà làm luật không giải quyết đến cùng vấn đề này, thì rất có thể sẽ bị giới luật học, Tổ quốc và Nhân dân coi là “chưa làm hết trách nhiệm biên soạn của mình”, mặc dù sự thật là tìm ra được thuật ngữ nào cho thật chính xác và phù hợp đằng sau phạm trù “TNHS” ở đây là không dễ, thậm chí chắc chắn là không thể được (!). Bởi lẽ, rõ ràng là người thực hiện những hành vi được nêu tại Chương IV Dự thảo tháng 9/2026 và bản ngày 09/10/2026 (và cả BLHS năm 2015) nếu chỉ cần đáp ứng được 01 trong 05 điều kiện của TNHS thì đương nhiên là không bao giờ phải chịu (tức không có) TNHS, nên không cần phải được ai “loại trừ” cho mình cả (!!!).
Chính với suy ngẫm như vậy mà gần 02 thập kỷ trước đây, ngay từ trước và sau khi ban hành BLHS năm 1999, cũng như trước khi ban hành BLHS năm 2015 hiện hành, chúng tôi đã liên tục và kiên trì đưa ra các luận chứng về vấn đề này, vì theo chúng tôi, rõ ràng chỉ có thể dùng mệnh đề “loại trừ tính tội phạm của hành vi” đối với những trường hợp này là phù hợp về BCPL và chính xác về mặt khoa học hơn cả. Nên vì vậy, cách đơn giản, nhưng chính xác và chặt chẽ hơn cả là, khi sử dụng thuật ngữ “những trường hợp” (1) thì tiếp theo sau đó, nên chỉ rõ phạm trù bị loại trừ đó chính là “tính tội phạm” (2) của “hành vi” là mọi người biết ngay những trường hợp đó “loại trừ” cái gì và của cái gì (vì ở đây ngụ ý là “tính tội phạm” của “hành vi”) mà chủ thể nào đó đã thực hiện, nhưng vì hành vi đó do không hề có tính tội phạm, nên theo logic tiếp theo → TNHS của chủ thể đó không có, nên không thể bị truy cứu TNHS, vì ở đây không có TNHS để truy cứu (nếu họ không vượt quá giới hạn theo luật định).
Thứ ba, một số nhược điểm về KTLP. Việc phân tích khoa học các quy phạm tại Chương IV của Dự thảo đã nêu tại 02 phiên bản tháng 9/2026 và bản ngày 09/10/2026 (và của cả BLHS năm 2015 hiện hành) cho thấy, đôi khi còn có sự thiếu nhất quán về KTLP trong việc: (1) Sắp xếp thứ tự các quy phạm tại một số điều luật có từ 02 quy phạm trở lên; cũng như (2) sử dụng các thuật ngữ để khẳng định hậu quả pháp lý của chủ thể đã thực hiện hành vi (tuy về mặt hình thức có dấu hiệu nào đó của tội phạm do PLHS quy định, nhưng xét cho cùng, thì đó lại là hành vi có ích cho xã hội), vì hành vi đó không bị PLHS cấm trong 07 trường hợp tương ứng với 07 điều của Chương IV, mà cụ thể là:
(i) Trong khi 02 quy phạm tương ứng các điều khác khi được ghi nhận (phân bố) theo 02 khoản (có đánh số thứ tự 1 và 2 trước mỗi quy phạm), thì còn 02 quy phạm tương ứng tại 02 điều (như: Điều 26 về rủi ro trong nghiên cứu... và Điều 27 về thi hành mệnh lệnh...) lại vẫn giữ nguyên nhược điểm là, vẫn được ghi nhận theo đoạn (tức là, không đánh số thứ tự mà chỉ xuống dòng). Đây chính là nhược điểm về sự hời hợt, bảo thủ và không cẩn trọng về KTLP trong việc soạn thảo luật đã tồn tại suốt hàng chục năm qua (từ sau khi SĐBS lần thứ nhất BLHS năm 1999 đến nay) mà cố Chánh án TANDTC thứ hai của thời kỳ đổi mới (từ sau năm 1986), TS. Trịnh Hồng Dương đã từng phê phán, nhưng đến nay, vẫn chưa được tiếp thu chỉnh sửa (thậm chí, cả trong 05 điều luật khác nữa thuộc Phần những quy định chung BLHS năm 2015 như các điều 16, 41-43, 45). Vì rõ ràng từ lâu, KTLP hình sự đã được thừa nhận chung là:
(1) Đoạn chỉ được sử dụng nếu tại mỗi điều luật tương ứng chỉ thể hiện duy nhất 01 ý tưởng của nhà làm luật, thì lúc đó, chỉ nên ghi nhận duy nhất 01 quy phạm (và trước quy phạm đó tuyệt đối không đánh số thứ tự gì cả).
(2) Còn nếu một khi tại các điều luật tương ứng thể hiện từ 02 ý tưởng trở lên của nhà làm luật, thì cần ghi nhận sao cho mỗi ý tưởng cần tương ứng với 01 khoản (và khi đó, trước các quy phạm tương ứng, sẽ lần lượt ghi các số thứ tự theo các khoản như 1, 2, 3, v.v.). Và khi 01 ý tưởng tương ứng với 01 khoản nào đó, cần phải được thể hiện thông qua nhiều mệnh đề, thì tại khoản đó có thể được tách ra sau thành nhiều đoạn và cần xuống dòng sau mỗi mệnh đề tương ứng.
(ii) Vẫn còn thiếu sự thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ về những trường hợp tại Chương IV như:
(1) Thực hiện hành vi trong 03 trường hợp (Điều 20 “Sự kiện bất ngờ”, Điều 21 “Tình trạng không có năng lực TNHS” và Điều 26 “Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên”) thì dùng các thuật ngữ “không phải chịu TNHS”; trong khi đó →
(2) Thì thực hiện hành vi trong 04 trường hợp còn lại (Điều 22 “Phòng vệ chính đáng”, Điều 23 “Tình thế cấp thiết”, Điều 24 “Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội” và Điều 25 “Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ”) thì lại dùng các thuật ngữ “không phải là tội phạm”.
(iii) Vẫn còn thiếu ít nhất là 03 điều luật nữa, để: (1) Sự khẳng định BCPL chung và hệ thốngnhững trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi; (2) Bổ sung thêm 01 trường hợp mới được loại trừ tính tội phạm của hành vi; (3) SĐBS và chuyển quy phạm mà BCPL đã được nhà làm luật khẳng định “không phải là tội phạm” về để ghi nhận cùng với những trường hợp có chung BCPL tại Chương IV.
3. Kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự trong tương lai
Thứ nhất, về sự khẳng định BCPL chính xác của Chương IV Dự thảo tháng 9/2026 và bản ngày 09/10/2026 (và cả BLHS năm 2015). Tại sao ở đây cần được hiểu là: loại trừ “tính tội phạm” của “hành vi” (vì chính là hành vi đó tuy về mặt hình thức có dấu hiệu của hành vi nào đó bị PLHS cấm (tức là bị BLHS quy định là tội phạm) nhưng được thực hiện trong những trường hợp được ghi nhận tại Chương IV Dự thảo (và BLHS năm 2015) thì không bị nhà làm luật coi là tội phạm (vì tùy từng trường hợp cụ thể tương ứng trong 07 trường hợp được ghi nhận tại đó) mà những hành vi này thiếu đi 01 trong 05 dấu hiệu (căn cứ) bắt buộc được thừa nhận chung mang tính logic với nhau trên cả 03 mặt/bình diện (về chủ quan, về khách quan và về pháp lý) của một hành vi bị quy định là tội phạm như: (1) Về mặt khách quan, bản thân hành vi đó không có tính nguy hiểm cho xã hội; còn về mặt chủ quan thì → người(không thể là pháp nhân !!!) khi thực hiện nó (hành vi đó), (2) không có lỗi (tức không cố ý hay vô ý), (3) đồng thời, không có năng lực TNHS, cũng như (4) không (chưa) đủ tuổi chịu TNHS và cuối cùng; → chính vì vậy, về mặt pháp lý, thì (5) hành vi đó không bị PLHS cấm (hay còn gọi là không bị nhà làm luật coi là tội phạm).
Thứ hai, hướng khắc phục nhược điểm. Từ sự phân tích khoa học trên đây cho thấy, để khắc phục những nhược điểm này và sẽ đạt hơn về mặt KTLP, nếu như trong tất cả các điều luật thuộc Chương IV BLHS năm 2015, cũng như Dự thảo BLHS đã nêu, nhà làm luật đều nhất quán quy định theo hướng như sau:
Một là, ghi nhận tại khoản 1 của các điều luật tương ứng đó một quy phạm mà về cơ bản đều giống như nhau, để khẳng định chúng là “Hành vi tuy về mặt hình thức có những dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định tại Phần các tội phạm Bộ luật này, nhưng được thực hiện do..., thì không phải là tội phạm”.
Hai là, tiếp theo sau từ “do” sẽ là thuật ngữ nêu tên gọi của hành vi cụ thể (như: “sự kiện bất ngờ”, “phòng vệ chính đáng”, v.v.) để ngay sau đó “hành vi này” được hưởng cụm từ nêu lên BCPL khi nhà làm luật khẳng định “không phải là tội phạm” (và nếu muốn cụ thể hơn nữa, thì tiếp theo sự khẳng định BCPL của hành vi này, nên chăng, có thể bổ sung thêm mệnh đề “và chủ thể thực hiện vi hành vi này không phải chịu TNHS”).
Ba là, tiếp theo tại khoản 2 sẽ ghi nhận quy phạm diễn đạt ngắn gọn nội hàm của hành vi tương ứng đó, để Nhân dân hiểu được lợi ích cho xã hội của hành vi đó như thế nào.
Bốn là, tại khoản 3 để tránh xu hướng tùy tiện, lợi dụng quy định của luật mà làm bừa, làm ẩu, nếu thực hiện cả hành vi vượt quá giới hạn cho phép (tùy từng trường hợp tương ứng cụ thể có thể sẽ có hoặc không) sẽ ghi nhận quy phạm khẳng định sự vượt quá giới hạn cho phép đó là vẫn “phải chịu TNHS”.
Thứ ba, về việc sử dụng font và cỡ (kích thước) chữ trong Mô hình hoàn thiện về KTLP của các điều khoản được đề xuất tại Chương IV BLHS tương lai (để cho ngắn gọn nên đôi khi chỉ viết là Mô hình). Vì đây mới chỉ là những KGLP (mà chưa phải là các điều luật chính thức) nên cần có sự phân định dứt khoát và rõ ràng, trung thực và chính xác sự khác nhau về giới hạn bản quyền của các bên nên:
Một là, Font chữ Times New Roman (thuộc về nội dung) trong Mô hình dưới đây như sau: (1) Từ (các từ) nào được in nghiêng là do chúng tôi đề xuất và sau từ cuối cùng của mỗi điều hoặc quy phạm mới hoàn toàn đều được ghi rõ bằng font chữ Arial và để trong dấu ngoặc đơn là (mới); (2) Sau từ (các từ) nào được in đứng là tiếp tục được kế thừa từ bản quyền của nhà làm luật trong BLHS năm2015 hiện hành; (3) Thuật ngữ “Bộ luật này” trong Mô hình dưới đây ngụ ý là BLHS tương lai.
Hai là, để bảo đảm tính khoa học nên cần phân biệt rõ cỡ chữ tương ứng với 02 nội dung như sau: (1) Nội dung chính (về những vấn học thuật cơ bản là “MẸ”) nên sử dụng font Times New Roman vớicỡ chữ 14; (2) Nội dung phụ (về những KGLP cụ thể trong Mô hình hoàn thiện KTLP là “CON”) vẫn sử dụng font Times New Roman (để thể hiện về mặt nội hàm của các điều luật) nhưng chỉ với cỡ chữ 12, ngoài ra còn sử dụng font chữ Arial (chỉ để về mặt hình thức) với ngụ ý về sự giải thích, bình luận, cơ cấu (mà không quan gì đến nội hàm các điều luật).
Thứ tư, tương ứng với các quy định tại Chương IV Dự thảo BLHS năm 2015 được SĐBS (tại phiên bản tháng 9/2026 và bản ngày 09/10/2026 của cơ quan soạn thảo) dưới đây là toàn bộ Mô hình hoàn thiện về KTLP với những KGLP cụ thể về những trường hợp được nghiên cứu trong BLHS tương lai (gọi ngắn gọn là Bộ luật này) nhằm góp phần khắc phục “những điểm nghẽn” về LPHS đã được phân tích ở trên (Phương án thứ nhất):
Chương IV
NHỮNG TRƯỜNG HỢP ( TÌNH TIẾT) LOẠI TRỪ TÍNH TỘI PHẠM CỦA HÀNH VI
Chương này gồm 10 điều (tạm đánh số thứ tự là 1-10), trong đó có: 06 điều mới của Bộ luật này mà ý tưởng về chúng đã được tác giả bắt đầu đề xuất ngay từ 36 năm trước (từ năm 1990) và 25 năm sau đó (vào năm 2015), ý tưởng của 04 điều do chúng tôi nêu trong Bộ luật này, đã được Tổ biên tập BLHS năm 2015 lĩnh hội và đã được quy định thành 04 điều tương ứng là các điều 21, 24-26 của BLHS năm 2015 với sự chỉnh sửa đôi chút cho khác đi về câu chữ theo ý của một số thành viên trong Tổ biên tập đó. Tuy nhiên, về KTLP, dù sao cũng vẫn còn nhược điểm, nên chúng tôi vẫn giữ nguyên theo đúng như Phương án ban đầu của mình đã được đưa ra từ 36 năm trước đây(5).
Điều 1. Hệ thống những trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi (mới)
1. Trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi là tình tiết được quy định trong Bộ luật này, mà khi có tình tiết ấy, thì việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự của người thực hiện hành vì đó không bị coi là tội phạm.
2. Hệ thống những trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi được quy định trong Bộ luật này là việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự, mà tuy về mặt hình thức có dấu hiệu của tội phạm nào đó đã được quy định trong Phần các tội phạm nhưng căn cứ vào tình tiết cụ thể tương ứng với 01 trong 09trường hợp dưới đây tại Phần những quy định chung, thì việc gây thiệt hại không bị coi là tội phạm và người gây thiệt hại đó đương nhiên được loại trừ trách nhiệm hình sự:
a) Gây thiệt hại do sự kiện bất ngờ;
b) Gây thiệt hại trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự;
c) Gây thiệt hại do sự phòng vệ chính đáng;
d) Gây thiệt hại do tình thế cấp thiết;
đ) Gây thiệt hại do sự rủi ro (mạo hiểm) chấp nhận được về kinh tế hoặc nghề nghiệp;
e) Gây thiệt hại do bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã để đưa đến cơ quan chính quyền;
f) Gây thiệt hại do buộc phải chấp hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh của cấp trên trong các lực lượng vũ trang và bảo vệ pháp luật;
g) Gây thiệt hại do tình trạng bất khả kháng;
h) Gây thiệt hại, nhưng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi không đáng kể.
Điều 2. Gây thiệt hại do sự kiện bất ngờ (trên cơ sở SĐBS Điều 21 Dự thảo và là Điều 20 BLHS năm 2015)
1. Hành vi tuy về mặt hình thức có dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định tại Phần các tội phạm Bộ luật này, nhưng được thực hiện do sự kiện bất ngờ, thì không phải là tội phạm (mới).
2. Sự kiện bất ngờ là việc gây thiệt hại mà không có lỗi, tức là, trong trường hợp, nếu chủ thể gây thiệt hại đã:
a) Không nhận thức được và do hoàn cảnh khách quan, cũng như các tình tiết cụ thể của sự vụ mà không thể nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện (mới); hoặc
b) Không thể thấy trước khả năng xảy ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và do hoàn cảnh khách quan, cũng như các tình tiết cụ thể của sự vụ mà không buộc phải thấy trước hoặc không thể thấy trước được khả năng xảy ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó.
3. Không được coi là sự kiện bất ngờ, nếu việc gây thiệt hại của chủ thể không bị sự tác động của hoàn cảnh khách quan, cũng như các tình tiết cụ thể của sự việc xảy ra đến mức làm cho chủ thể của hành vi gây thiệt hại không nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi hoặc không thấy trước được khả năng xảy ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó. Trong trường hợp này, chủ thể của hành vi gây thiệt hại vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự (mới).
Điều 3. Gây thiệt hại trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (trên cơ sở SĐBS Điều 22 Dự thảo và là Điều 21 BLHS năm 2015)
1. Hành vi tuy về mặt hình thức có dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định tại Phần các tội phạm Bộ luật này nhưng do người ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, thì không phải là tội phạm (mới).
2. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là trạng thái bệnh lý tâm thần hoặc một bệnh lý khác của người trong thời gian thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội mà Bộ luật này quy định là tội phạm hoàn toàn không thể nhận thức được tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi của mình hoặc không thể điều khiển được hành vi đó (mới).
3. Nếu người ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều này trực tiếp gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự do bị người khác sử dụng, thì người sử dụng họ phải chịu trách nhiệm hình sự về thiệt hại đã gây ra (mới).
Điều 4. Gây thiệt hại do sự phòng vệ chính đáng (trên cơ sở SĐBS Điều 23 Dự thảo và là Điều 22 BLHS năm 2015)
1. Hành vi tuy về mặt hình thức có dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định tại Phần các tội phạm Bộ luật này, nhưng được thực hiện do sự phòng vệ chính đáng, thì không phải là tội phạm (mới).
2. Phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả của người phòng vệ để gây thiệt hại cho người đang có hành vi xâm hại đến các lợi ích hợp pháp của mình hoặc của những người khác, cũng như của xã hội, hay của Nhà nước, nếu hành vi chống trả tương xứng với hành vi xâm hại.
3. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là khi hành vi chống trả do cố ý rõ ràng là quá đáng, tức là, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người cố ý vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.
Điều 5. Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết (trên cơ sở SĐBS Điều 24 Dự thảo và là Điều 23 BLHS năm 2015)
1. Hành vi tuy về mặt hình thức có dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định tại Phần các tội phạm Bộ luật này, nhưng được thực hiện trong tình thế cấp thiết, thì không phải là tội phạm.
2. Tình thế cấp thiết là hành vi gây thiệt hại của người để ngăn ngừa sự nguy hiểm đang đe dọa trực tiếp đến các lợi ích hợp pháp của mình hoặc của những người khác, cũng như của xã hội hay của Nhà nước, nếu sự nguy hiểm đó không thể loại trừ được bằng cách nào khác và thiệt hại gây ra nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
3. Vượt quá giới hạn của tình thế cấp thiết là khi hành vi gây thiệt hại rõ ràng là quá đáng, tức là không tương xứng với tính chất và mức độ của sự nguy hiểm đang đe dọa trực tiếp, cũng như những hoàn cảnh thực tế làm cho sự nguy hiểm này bị loại trừ và do đó mà thiệt hại gây ra cho các lợi ích nói trên đã bằng hoặc lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Người cố ý vượt quá giới hạn của tình thế cấp thiết phải chịu trách nhiệm hình sự.
Điều 6. Gây thiệt hại do sự bất đắc dĩ (bắt buộc) trong khi bắt giữ người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (trên cơ sở SĐBS Điều 25 Dự thảo và là Điều 24 BLHS năm 2015)
1. Hành vi tuy về mặt hình thức có dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định tại Phần các tội phạm Bộ luật này nhưng được thực hiện do sự bất đắc dĩ phải gây thiệt hại cho người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã để bắt người đó đưa đến cơ quan chính quyền nhằm ngăn chặn việc người đó tiếp tục phạm tội hoặc trốn tránh pháp luật thì không phải là tội phạm (mới).
2. Việc gây thiệt hại để bắt giữ người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã được coi là bất đắc dĩ khi hoàn cảnh thực tế trong tình huống tương ứng cho thấy, đã không còn cách nào khác ngoài việc buộc phải gây thiệt hại ấy ngay lập tức nhằm đưa người đó đến cơ quan chính quyền (mới).
3. Việc gây thiệt hại để bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã không được coi là bất đắc dĩ khi hoàn cảnh thực tế trong tình huống tương ứng cho thấy mặc dù vẫn còn biện pháp khác có thể áp dụng được nhằm đưa người đó đến cơ quan chính quyền, nhưng người bắt đã cố ý vượt quá giới hạn của thiệt hại gây ra. Trong trường hợp này việc cố ý vượt quá giới hạn của thiệt hại gây ra phải chịu trách nhiệm hình sự trên những cơ sở chung (mới).
4. Sự cố ý vượt quá giới hạn của việc gây thiệt hại trong việc bắt giữ người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã là khi hành vi gây thiệt hại rõ ràng là quá đáng, tức là không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội hoặc hành vi trốn tránh sự truy nã của người bị bắt (mới).
Điều 7. Gây thiệt hại do sự rủi ro (mạo hiểm) có căn cứ về kinh tế hoặc nghề nghiệp (trên cơ sở SĐBS Điều 26 Dự thảo và là Điều 25 BLHS năm 2015, vì suy cho cùng “kinh doanh” cũng thuộc lĩnh vực kinh tế, nhưng hẹp hơn, còn thuật ngữ “nghề nghiệp” tuy ngắn gọn, nhưng sẽ có phạm vi rộng hơn, vì nó sẽ bao hàm tất cả các thuật ngữ được nêu rất dài tại tiêu đề Điều 26 Dự thảo)
1. Sự rủi ro có căn cứ về kinh tế hoặc nghề nghiệp là sự mạo hiểm có thể chấp nhận được khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ nhằm đạt được mục đích có ích cho xã hội, nhưng mục đích đó đã không thể đạt được do chính sự rủi ro đó (mới).
2. Hành vi tuy về mặt hình thức có dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định tại Phần các tội phạm Bộ luật này, nhưng là sự rủi ro có căn cứ về kinh tế hoặc nghề nghiệp, nhằm đạt được mục đích có ích cho xã hội, thì không phải là tội phạm (mới).
3. Sự rủi ro về kinh tế hoặc nghề nghiệp được coi là có căn cứ nếu hành vi được thực hiện phù hợp với kinh nghiệm thực tiễn và các kiến thức được thừa nhận chung của tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, nhưng mục đích có ích cho xã hội được đặt ra đã không thể đạt được bằng chính sự rủi ro ấy, mặc dù chủ thể thực hiện nó đã tích cực áp dụng tất cả các biện pháp có thể áp dụng được để phòng, chống thiệt hại gây ra cho các lợi ích được bảo vệ bằng pháp luật hình sự (mới).
4. Sự rủi ro (mạo hiểm) về kinh tế hoặc nghề nghiệp bị coi là không có căn cứ nếu đã rõ ràng là nó không thể đạt được mục đích có ích cho xã hội, tức là, kèm theo mối đe dọa cho sức khỏe hoặc cuộc sống của con người, gây nên thảm họa về môi sinh hoặc tai biến xã hội, cũng như thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng khác cho các lợi ích được bảo vệ bằng pháp luật hình sự. Trong trường hợp này, chủ thể thực hiện sự rủi ro không có căn cứ đó phải chịu trách nhiệm hình sự (mới).
Điều 8. Gây thiệt hại do sự bắt buộc phải thi hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh (trên cơ sở SĐBS Điều 27 Dự thảo và là Điều 26 BLHS năm 2015)
1. Hành vi tuy về mặt hình thức có dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định tại Phần các tội phạm Bộ luật này, nhưng được thực hiện do sự bắt buộc phải thi hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên theo quy định chung trong các lực lượng vũ trang thuộc Quân đội hoặc/và Công an thì không phải là tội phạm (mới).
2. Người gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự do bắt buộc phải thi hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này, nếu chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh được ban hành là trái pháp luật, thì người ban hành nó phải chịu trách nhiệm hình sự về thiệt hại đã gây ra.
3. Người thi hành mặc dù nhận thức được tính chất trái pháp luật rõ ràng của chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh của chỉ huy hoặc của cấp trên được ban hành, nhưng vẫn cố ý gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự để thi hành nó, thì phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với người ban hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh đó trên những cơ sở chung.
4. Người không thi hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh trái pháp luật của chỉ huy hoặc của cấp trên, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, ngoại trừ các tội xâm phạm hòa bình và an ninh của nhân loại được quy định tại các điều... Bộ luật này (khoản 4 này là mới và thuật ngữ “các điều” ở đây ngụ ý là 03 điều nào đó trong BLHS Việt Nam thứ tự sau này tương ứng với 03 Điều 421, 422 và 423 trong BLHS năm 2015).
Điều 9. Gây thiệt hại do tình trạng bất khả kháng (mới)
1. Hành vi tuy về mặt hình thức có dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định tại Phần các tội phạm Bộ luật này, nhưng không thể cưỡng lại được, thì không phải là tội phạm.
2. Tình trạng bất khả kháng là tình trạng của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội (bằng hành động hoặc không hành động), mặc dù có thể thấy trước hoặc buộc phải thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội của hành vi do mình thực hiện, nhưng do hoàn cảnh khách quan và các tình tiết cụ thể của tình trạng xảy ra mà người đó đã:
a) Không thể điều khiển được hành vi ấy, nên hậu quả xảy ra;
b) Không còn biện pháp nào khác để có thể khắc phục được hậu quả xảy ra.
3. Không được coi là tình trạng bất khả kháng nếu việc gây thiệt hại không bị sự tác động (của hoàn cảnh khách quan, cũng như các tình tiết cụ thể của tình trạng xảy ra) đến mức làm cho người thực hiện hành vi gây thiệt hại không thể điều khiển được hành vi của mình, hoặc vẫn còn có khả năng để có thể khắc phục được hậu quả nguy hiểm đáng kể cho xã hội xảy ra. Trong trường hợp này, tùy theo các tình tiết và hoàn cảnh cụ thể xảy ra, nếu hành vi gây thiệt hại có các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng trong Phần các tội phạm Bộ luật này thì người thực hiện vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
Điều 10. Gây thiệt hạn nhưng tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể của hành vi (trên cơ sở SĐBS và chuyển khoản 2 Điều 8 về đây, bởi lẽ, về mặt KTLP và nếu xét về BCLP thì một khi nhà làm luật đã khẳng định nó “không phải là tội phạm” rồi, thì không có lý do gì để gộp chung cùng với Điều 8 “Khái niệm tội phạm” !!!)
1. Hành vi tuy về mặt hình thức có dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định trong Bộ luật này,nhưng tính nguy hiểm cho xã hội (cả về tính chất và mức độ) không đáng kể và chưa đến mức cần phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự, thì không phải là tội phạm.
2. Trong một số trường hợp nhất định, tùy thuộc hoàn cảnh khách quan của sự việc và hậu quả xảy ra, người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nêu tại khoản 1 Điều này, vẫn có thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế phi hình sự, biện pháp giáo dục hoặc biện pháp kỷ luật (mới). (Đặc biệt, dưới góc độ pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở đây, cần phải ghi nhận một cách dứt khoát và rõ ràng, chứ không nên chung chung và không minh bạch là “biện pháp khác”, vì phạm trù “khác” trong thực tiễn áp dụng PLHS rất dễ bị lạm dụng và thường dẫn đến các biểu hiện của sự vi phạm pháp chế như: tùy tiện, giải thích theo nhiều nghĩa khác nhau, v.v. mà không đúng như ý định nhân văn của nhà làm luật).
Kết luận
Như vậy, để cho các luận điểm liên quan đến công tác xây dựng pháp luật (trong đó có PLHS) tại Nghị quyết 66-NQ/TWngày 30/4/2025 và 04 văn bản đã nêu của Đảng (đã được dẫn ra ở trên) thực sự đi vào đời sống pháp lý, thiết nghĩ theo quan điểm của chúng tôi thấy rằng:
Thứ nhất, các quy phạm tại Chương IV (nói riêng) và tại Dự thảo BLHS (Phiên bản ngày 13/9/2026 và ngày 09/10/2026) chỉ SĐBS 02 điều và về cơ bản giữ nguyên như Chương IV BLHS năm 2015 hiện hành, cũng như tại BLHS tương lai sau này (nói chung) cần tiếp tục được các nhà luật học - hình sự học Việt Nam thực sự có tâm đối với Nhân dân và Tổ quốc, hãy cùng nhau tiếp tục suy ngẫm, trao đổi một cách thực sự dân chủ, để tranh luận đến cùng chân lý và từ đó, đưa ra các đề xuất với nhiều giải pháp khác nhau cho nhà làm luật có nhiều phương án khác nhau, để có lựa chọn tối ưu nhất về KTLP hơn cả cho BLHS tương lai.
Thứ hai, nên giao cho TANDTC là cơ quan tư pháp trực tiếp liên quan đến thực tiễn xét xử hàng đầu của đất nước, với đầy đủ kinh nghiệm và bề dày về áp dụng PLHS được kế thừa từ truyền thống của thế hệ gạo cội là các bậc cố lão thành (như: Phạm Thái, Trịnh Hồng Dương, Vũ Thiện Kim, Phan Huy Xương, Lê Kim Quế, v.v.) trong lĩnh vực TPHS Việt Nam suốt hơn 80 năm qua (kể từ sau tháng 8/1945 đến nay) chủ trì việc soạn thảo BLHS thứ 4 của đất nước vì các lý do xác đáng dưới đây:
Một là, thế hệ các nhà luật học trong lĩnh vực PLHS từ sau những năm 1990 đến nay (2026) tuy có thể hơn họ (các bậc cố lão thành ở TANDTC trên đây) về các tri thức công nghệ, vi tính và trí tuệ nhân tạo (AI), nhưng cần phải học hỏi rất nhiều, vì không thể nào hơn họ về KTLP hình sự, nhất là về sự cẩn trọng trong việc lựa chọn từng câu, từ và thuật ngữ sao cho trong sáng, rõ ràng, ngắn gọn và dễ hiểu mà truyền thống này chính các luật gia làm việc tại Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan tư pháp mới có thể trực tiếp kế thừa và học hỏi được nhiều hơn hết (so với các luật gia công tác tại các cơ quan hành pháp).
Hai là, từ hàng chục năm qua, trong thực tiễn áp dụng PLHS, đã tồn tại quan điểm đúng đắn và bảo đảm sức thuyết phục là: sau khi một đạo luật hình sự ra đời thì việc kiểm tra để đánh giá được một cách chính xác giá trị đích thực và tồn tại được (tức sự sống) lâu dài hay “chết yểu” của đạo luật hình sự đó nói chung (cũng như của bất kỳ chế định lớn, nhỏ hay quy phạm nào nói riêng được ghi nhận trong đạo luật đó) chỉ có thể được khẳng định thông qua thực tiễn áp dụng nó ở giai đoạn cuối cùng của toàn bộ quá trình xử lý vụ án hình sự tương ứng với 03 giai đoạn của thực tiễn áp dụng PLHS là điều tra (1), truy tố (2) và xét xử (3). Vì trong một nhà nước pháp quyền đích thực (mà ở pháp luật là tối thượng) đã tồn tại quan điểm được thừa nhận chung, xác đáng và bảo đảm sức thuyết phục suốt hàng trăm năm qua là: Khi áp dụng PLHS trừu tượng đối với một VAHS nhất định mà có sự nhận thức khác nhau của 02bên (buộc tội và gỡ tội) đối với tranh chấp các dấu hiệu của CTTP tương ứng trong vụ án đó, thì thực tiễn áp dụng PLHS đã khẳng định chỉ có nhận thức của bên thứ ba (xét xử) với tư cách là trọng tài để đưa ra phán quyết cuối cùng một công minh và đúng pháp luật mới có giá trị cao nhất đối với số phận pháp lý của bị cáo trong vụ án đó. Có lẽ chính vì vậy mà hơn 05 thập kỷ qua (kể từ năm 1975 đến nay) trong giới TPHS đã có luận điểm nổi tiếng cho đến tận hôm nay của 01 nhà khoa học - luật gia hình sự học nổi tiếng của Liên Xô cũ, nguyên Trưởng Bộ môn Luật hình sự & tội phạm học của Khoa Luật - Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Tbilisi thuộc nước Cộng hòa XHCN Xô Viết Gruzia (thuộc cũ), TSKH.GS Tkelesiađze G.Tr rằng: “Thực tiễn xét xử là phòng thí nghiệm đặc sắc mà trong đó có thể kiểm tra được tính đúng đắn và hiệu quả của đạo luật hình sự”(6).
Thứ ba, đề xuất như trên là nhằm mục đích phòng ngừa để tránh sự “hy hữu” đáng tiếc về sự thiếu cẩn trọng đã xảy ra như 11 năm trước đây khi BLHS thứ ba (2015) vừa mới thông qua ngày 27/11/2015 chưa kịp đưa vào thi hành trong thực tiễn đã bị Quốc hội khóa XIV tạm đình chỉ lại để SĐBS lần thứ nhất trong 02 năm (2016-2017) và chỉ thực sự có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, đã gây lãng phí cho ngân sách nhà nước./.
3 Đỗ Mười, Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội (Tập I), Nxb. Sự thật. Hà Nội, 1992, tr.129-133.
4 Đó là 05 văn bản cụ thể sau đây của Đảng (đã được ban hành trong 02 năm 2025-2026): 1) Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị “Về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” (như đã nêu tại Chú thích số 2 ở trên của bài này với sự khẳng định cho cả “Tầm nhìn đến năm 2045”; 2) Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV (tháng 01/2026) chỉ ra định hướng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; 3) Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước; 4) Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; 5) Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 của BCHTW Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.
5 Cần lưu ý là từ 36 năm trước (tức vào năm 1990) do thấm nhuần sâu sắc tư tưởng bảo vệ các quyền (BVCQ) của con người bằng PLHS nên tác giả đã bắt đầu công bố nghiên cứu đầu tiên trên các trang sách báo khoa học pháp lý nước nhà và đã chính thức đưa ra những KGLP cụ thể về các quy phạm trong 01 Chương riêng biệt với hệ thống gồm 10 trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi, trong đó 05 trường hợp mới đã được quy định thành các điều 20-21, 24-26 Chương IV BLHS năm 2015 với cách diễn đạt theo ý của Tổ Biên tập, nên ở đây chúng tôi xin phép vẫn tiêp tục giữ nguyên như quan điểm của mình đã đưa ra 36 năm trước đây. Xem cụ thể hơn: Lê Cảm, Vấn đề hoàn thiện các quy định về những trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/1998, tr.3-5 và số 4/1998, tr.3-9. Nhưng rất tiếc là vì “những điểm nghẽn” trong LPHS nên khi ban hành BLHS năm 1999 (Tổ Biên tập) do sự bảo thủ nên những trường hợp nêu trên vẫn bị gộp chung vào cùng 01 Chương chung với các quy định về tội phạm (!!!) và chỉ cho đến khi PLHS đã được pháp điển hóa lần thứ ba trong BLHS năm 2015 thì những trường hợp đã nêu mới được tách ra để ghi nhận riêng biệt tại 01 Chương IV độc lập (nhưng dù sao cũng còn có nhược điểm nhất định về KTLP như đã được chỉ rõ ở trên).
6 Tkelesiađze G.Tr., Thực tiễn xét xử và đạo luật hình sự, Nxb. Khoa học. Tbilisi, 1975, tr.5 (Tiếng Nga).
Tài liệu tham khảo
1. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phat triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
2. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025.
3. Dự thảo Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung tại 03 phiên bản ngày 13, 22/9/2026 và ngày 09/10/2026.
4. Lê Cảm, Luật hình sự Việt Nam và sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền: một số vấn đề hoàn thiện các quy phạm của Phần chung, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/1997.
5. Lê Cảm, Vấn đề hoàn thiện các quy định về những trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/1998 và số 4/1998.
6. PGS.TS. Trịnh Tiến Việt, Báo cáo khoa học “Những định hướng nghiên cứu mới của Luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 11/9/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong sách kỷ yếu: Những vấn đề lý luận, thực tiễn và lập pháp về tư pháp hình sự, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2024.
7. TSKH.GS. Lê Văn Cảm (Chủ biên), PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Hoa và TS. Đinh Hoàng Quang, Học thuyết về hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong xây dựng Nhà nước pháp quyền (Sách chuyên khảo), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2025.
8. Tkelesiađze G.Tr., Thực tiễn xét xử và đạo luật hình sự, Nxb. Khoa học. Tbilisi, 1975 (Tiếng Nga).
Bài viết dựa trên các quy định của Chương IV Dự thảo sửa đổi, bổ sung (SĐBS) Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 được gửi cho tác giả tại Phiên bản ngày 13/9/2026 do Tạp chí Tòa án nhân dân gửi kèm theo Thư đặt bài số 244/TCTAND-P1 ngày 07/9/2026. Ngoài ra, bài viết này cũng có sự tham khảo thêm các quy phạm của Chương IV tại Phiên bản ngày 22/9/2026 do đ/c Phan Ngọc Tùng ở Ban Dân chủ - Pháp luật thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi cho tác giả mời tham gia Hội nghị góp ý cho Dự thảo SĐBS BLHS năm 2025 (dự kiến tổ chức ngày 02/10/2026), nên đôi khi, trong bài viết chỉ gọi chung chung Dự thảo là phiên bản tháng 9/2026. Ngoài ra, Tạp chí TAND đã cập nhật thêm trong bài viết Dự thảo ngày 09/10/2026 để bảo đảm tính thời sự.
Bài liên quan
-
Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
-
OCB hoàn tất nộp bổ sung Ngân sách nhà nước
-
Cụ thể hóa quan điểm “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất” vào Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2024
-
Sửa đổi Bộ luật Hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự: Những vấn đề trọng tâm đặt ra
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TỐ TỤNG ĐIỆN TỬ TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Improving the legal framework for eletronic procedures in criminal adjudication -
Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú không bắt buộc phải mở phiên họp việc dân sự
-
VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TẠI DỰ THẢO BỘ LUẬT HÌNH SỰ (SỬA ĐỔI) THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW NGÀY 30/4/2025 CỦA ĐẢNG
Circumstances excluding criminal responsibility in the Draft Penal Code (amended) in accordance with Resolution No. 66-NQ/TW dated 30 April 2025 of the Party -
PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ VÀ THẨM QUYỀN KHÁC CỦA TÒA ÁN TRONG HỆ THỐNG TÒA ÁN 03 CẤP
Determining the jurisdiction and other competeneces of Courts the three-tier Court system -
GIỚI HẠN XÉT XỬ, TRÁCH NHIỆM CHỨNG MINH VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LIMITS OF TRIAL, BURDEN OF PROOF AND THE COURT’S ROLE IN RELATION TO DOCUMENTS AND
Bình luận