Giao chỉ tiêu công tác trong hệ thống Tòa án nhân dân theo Nghị quyết số 34/2026/QH16 của Quốc hội: Từ yêu cầu lượng hóa đến giải pháp tổ chức thực hiện
Nghị quyết số 34/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội đã thay đổi căn bản cách thức xác định chỉ tiêu công tác của Tòa án nhân dân so với Nghị quyết số 96/2019/QH14: Quốc hội không còn trực tiếp ấn định tỷ lệ giải quyết án theo từng loại việc, mà giao Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trách nhiệm “lượng hóa tối đa” và cụ thể hóa chỉ tiêu cho từng cấp, từng đơn vị. Từ việc phân tích vấn đề dưới ba góc nhìn - người quản lý, lãnh đạo đơn vị; Thẩm phán trực tiếp xét xử; và người tham mưu xây dựng chiến lược - bài viết đề xuất một phương pháp lượng hóa, giao chỉ tiêu công tác có căn cứ, khả thi, công bằng, tạo động lực, đồng thời cụ thể hóa thành kế hoạch hành động theo từng giai đoạn, gắn với thời gian, đơn vị chủ trì và sản phẩm đầu ra cụ thể.
Đặt vấn đề
Ngày 24/8/2026, tại kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 34/2026/QH16 về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án1 (sau đây gọi là Nghị quyết số 34/2026/QH16 hoặc Nghị quyết). Nghị quyết được công bố ngày 29/8/20262, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027 và thay thế Nghị quyết số 96/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội khóa XIV về cùng nội dung3 (sau đây gọi là Nghị quyết số 96/2019/QH14).
Qua trao đổi tại nhiều hội nghị quán triệt gần đây, có thể thấy, điểm khác biệt lớn nhất của Nghị quyết số 34/2026/QH16 đối với công tác Tòa án không nằm ở việc chỉ tiêu “cao hơn” hay “thấp hơn”, mà nằm ở cách thức xác định chỉ tiêu: Quốc hội không còn ấn định trực tiếp tỷ lệ giải quyết án theo từng loại việc áp dụng chung cho toàn Ngành như trước, mà giao trách nhiệm này cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Một bài viết phân tích gần đây trên Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam đã khái quát khá đúng bản chất vấn đề bằng nhận định: Nghị quyết “không ấn định tỷ lệ, nhưng không buông trách nhiệm”4. Chính sự thay đổi mang tính bước ngoặt này đã đặt ra yêu cầu cấp thiết: toàn Ngành, mà trước hết là Tòa án nhân dân tối cao, cần xây dựng được một phương pháp giao chỉ tiêu công tác vừa khoa học, vừa thấu tình đạt lý, để chỉ tiêu thực sự trở thành công cụ quản trị hiệu quả thay vì áp lực hành chính đơn thuần.
Với mong muốn góp một góc nhìn thực tiễn, bài viết này tiếp cận vấn đề theo ba bước: trước hết, phân tích những thay đổi căn bản của Nghị quyết số 34/2026/QH16 so với Nghị quyết số 96/2019/QH14; tiếp đó, nhìn nhận yêu cầu giao chỉ tiêu từ ba góc độ khác nhau để tìm ra giải pháp dung hòa được lợi ích và mối quan tâm của các chủ thể liên quan; và sau cùng, cụ thể hóa giải pháp thành một kế hoạch hành động khả thi, có lộ trình, thời gian và trách nhiệm rõ ràng.
1. Những thay đổi căn bản về yêu cầu chỉ tiêu công tác của Tòa án nhân dân
1.1. Về cách thức xác định chỉ tiêu tiến độ giải quyết, xét xử
Nghị quyết số 96/2019/QH14 ấn định trực tiếp tỷ lệ giải quyết án theo từng loại việc, áp dụng thống nhất cho toàn Ngành Tòa án: “tỷ lệ giải quyết án hình sự đạt trên 88%; án dân sự đạt trên 78%; án hành chính đạt trên 60%”5. Trong khi đó, điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 34/2026/QH16 quy định: “Bảo đảm việc giải quyết, xét xử vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính đúng thời hạn theo quy định của pháp luật đạt 100%... Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giao cụ thể tỷ lệ giải quyết, xét xử vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính trên tổng số thụ lý trong ngành Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Nghị quyết này và báo cáo Quốc hội để giám sát”6. Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết tiếp tục quy định: căn cứ Nghị quyết, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (cùng Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp) “cụ thể hóa các chỉ tiêu, nhiệm vụ, trong đó lượng hóa tối đa và có thể giao chỉ tiêu với yêu cầu cao hơn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, đáp ứng yêu cầu và mục tiêu phấn đấu hằng năm của cả ngành, báo cáo Quốc hội để giám sát”7.
Nói cách khác, cơ chế xác định chỉ tiêu tiến độ đã chuyển từ mô hình một cấp - Quốc hội ấn định tỷ lệ áp dụng chung - sang mô hình hai cấp: Quốc hội xác lập khung nguyên tắc (100% đúng thời hạn theo luật định), còn việc lượng hóa, phân bổ tỷ lệ cụ thể cho từng cấp Tòa án, từng loại án được giao lại cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định trên tinh thần “lượng hóa tối đa”. Đây chính là lý do khiến việc xây dựng phương pháp giao chỉ tiêu nội bộ đang trở thành nội dung được thảo luận sôi nổi nhất tại các hội nghị triển khai Nghị quyết trong toàn Ngành hiện nay.
1.2. Về chỉ tiêu chất lượng bản án, quyết định
Cả hai Nghị quyết đều khống chế tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan ở mức không vượt quá 1,5%8. Tuy vậy, phạm vi các loại vụ, việc được tính vào chỉ tiêu này tại Nghị quyết số 34/2026/QH16 đã được mở rộng đáng kể so với Nghị quyết số 96/2019/QH14, bao gồm cả vụ việc phục hồi, phá sản; vụ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án; vụ việc xem xét, quyết định đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc; vụ việc xem xét, quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án9. Sự mở rộng này phản ánh đúng thực tế thẩm quyền của Tòa án nhân dân đã được mở rộng theo pháp luật hiện hành, đồng thời đặt ra yêu cầu Bộ tiêu chí lượng hóa chỉ tiêu phải bao quát đầy đủ các loại việc mới, tránh bỏ sót khi xây dựng cơ sở dữ liệu tính toán.
1.3. Về nền tảng tổ chức bộ máy làm cơ sở giao chỉ tiêu
Việc giao chỉ tiêu công tác từ năm 2027 còn đặt trong bối cảnh hệ thống Tòa án nhân dân đã được tổ chức lại theo mô hình hai cấp kể từ ngày 01/7/2025. Theo Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hệ thống Tòa án nhân dân hiện có 34 Tòa án nhân dân cấp tỉnh và 355 Tòa án nhân dân khu vực10. Theo Nghị quyết số 82/2025/UBTVQH15, tổng số Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp là 7.004 người, trong đó Tòa án nhân dân tối cao có 130 người, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có 875 người và Tòa án nhân dân khu vực có 5.999 người, với cơ cấu tỷ lệ các bậc Thẩm phán khác nhau giữa các cấp11. Quy mô tổ chức lại như vậy cho thấy cách giao chỉ tiêu bình quân, đồng loạt trước đây khó có thể tiếp tục phù hợp, mà cần được xây dựng lại trên nền dữ liệu khối lượng án và biên chế thực tế sau sắp xếp. Tựu trung lại, cả ba thay đổi nêu trên đều dẫn đến một đòi hỏi chung: việc giao chỉ tiêu không thể tiếp tục theo lối cũ, mà cần được nhìn nhận thấu đáo hơn, từ nhiều góc độ khác nhau, trước khi bàn đến giải pháp cụ thể.
2. Nhìn nhận vấn đề giao chỉ tiêu từ ba góc độ
Giao chỉ tiêu công tác không đơn thuần là một bài toán kỹ thuật thống kê, mà thực chất là một vấn đề quản trị tổ chức, liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích và trách nhiệm của nhiều chủ thể. Để có được giải pháp toàn diện, thiết nghĩ cần nhìn nhận vấn đề từ ba góc độ bổ sung cho nhau: góc độ của người quản lý, lãnh đạo đơn vị; góc độ của Thẩm phán trực tiếp thực hiện nhiệm vụ; và góc độ của người tham mưu xây dựng chiến lược dài hạn cho toàn Ngành.
2.1. Góc nhìn của người quản lý, lãnh đạo đơn vị
Đứng ở vị trí người đứng đầu đơn vị, điều đáng bận tâm nhất không phải là con số chỉ tiêu cao hay thấp, mà là chỉ tiêu được giao có phản ánh đúng thực lực và khối lượng công việc của đơn vị mình hay không, để vừa hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, vừa giữ được sự đồng thuận, gắn kết trong nội bộ. Người quản lý cần một chỉ tiêu “nhìn vào là hiểu, giải trình được”, có thể đối chiếu với đơn vị bạn mà không rơi vào tình huống bị đánh giá thấp hơn trong khi điều kiện thực tế lại khó khăn hơn. Cùng với đó, người quản lý cũng phải tính đến bài toán con người: chỉ tiêu vượt quá xa so với nguồn lực dễ dẫn đến tâm lý đối phó, chạy theo số lượng, ảnh hưởng ngược lại đến chất lượng xét xử và sự an tâm công tác của đội ngũ.
2.2. Góc nhìn của Thẩm phán trực tiếp xét xử
Từ góc độ người trực tiếp giải quyết, xét xử từng vụ án cụ thể, điều Thẩm phán quan tâm là chỉ tiêu có được xây dựng trên sự thấu hiểu đúng bản chất công việc hay không. Một vụ án hành chính phức tạp, phải xác minh nhiều lần tại cơ quan hành chính, khó có thể được “đếm” ngang bằng một vụ ly hôn thuận tình; một Thẩm phán vừa được bổ nhiệm, chưa nhiều kinh nghiệm cũng khó chịu áp lực tiến độ như một Thẩm phán đã công tác lâu năm. Nếu chỉ tiêu không phản ánh đúng thực tế này, Thẩm phán dễ rơi vào tình thế phải cân nhắc giữa việc bảo đảm tiến độ và việc bảo đảm chất lượng, thậm chí ảnh hưởng đến sự độc lập trong xét xử - điều cần đặc biệt tránh đối với nghề nghiệp. Vì lẽ đó, chỉ tiêu cần đi liền với sự hỗ trợ thực chất: được cảnh báo sớm khi vụ án có nguy cơ chậm, được ghi nhận khách quan khi án bị hủy, sửa do nguyên nhân ngoài ý muốn, và được đào tạo đúng vào những nội dung nghiệp vụ còn hạn chế.
2.3. Góc nhìn của người tham mưu xây dựng chiến lược
Nếu người quản lý quan tâm đến sự công bằng, khả thi trước mắt, còn Thẩm phán quan tâm đến sự thấu hiểu và hỗ trợ tại chỗ, thì người làm công tác tham mưu chiến lược lại cần nhìn xa hơn: hệ thống chỉ tiêu hôm nay phải là nền tảng dữ liệu cho những quyết sách của 5 đến 10 năm tới. Đó là câu chuyện xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, minh bạch, cập nhật hằng năm; là việc thiết kế cơ chế giao chỉ tiêu có khả năng tự điều chỉnh theo biến động thực tế, thay vì phải sửa đổi từ gốc mỗi khi có biến động; và cũng là việc từng bước chuyển đổi mô hình quản trị từ “quản lý bằng mệnh lệnh hành chính” sang “quản lý bằng dữ liệu và bằng chứng thực tiễn”, phù hợp với xu hướng cải cách tư pháp, chuyển đổi số hiện nay.
2.4. Tổng hợp: giải pháp cần dung hòa cả ba góc nhìn
Ba góc nhìn nêu trên không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau và giải pháp tối ưu chính là phương pháp lượng hóa hội tụ đủ bốn nguyên tắc sau: một là, có căn cứ số liệu thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi minh bạch, giải trình được của người quản lý; hai là, khả thi với điều kiện thực tế của từng đơn vị và từng Thẩm phán, đáp ứng mong muốn được thấu hiểu của người trực tiếp xét xử; ba là, công bằng giữa các đơn vị có điều kiện khác nhau, hài hòa lợi ích, tránh so bì nội bộ; bốn là, tạo động lực phấn đấu, không gây áp lực phản tác dụng, đồng thời được nuôi dưỡng bằng một hệ cơ sở dữ liệu bền vững, đáp ứng tầm nhìn dài hạn của công tác tham mưu chiến lược. Đây cũng chính là nội hàm của yêu cầu “lượng hóa tối đa” mà khoản 1 Điều 7 Nghị quyết12 đã đặt ra.
3. Giải pháp lượng hóa và giao chỉ tiêu công tác
3.1. Chuẩn hóa khái niệm, công thức tính của từng chỉ tiêu trước khi giao
Trước khi giao chỉ tiêu năm 2027, Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành thống nhất một Bộ tiêu chí định lượng, trong đó đối với từng chỉ tiêu phải quy định rõ chỉ tiêu đánh giá nội dung gì, trường hợp nào được tính hoặc không được tính, lấy số liệu nào làm căn cứ và tính theo công thức nào, thời điểm chốt số liệu, trường hợp được loại trừ, nguồn dữ liệu chính thức và đơn vị chịu trách nhiệm xác nhận số liệu.
Đặc biệt, cần phân biệt rõ giữa “tỷ lệ giải quyết” và “tỷ lệ giải quyết đúng thời hạn”; giữa “bản án, quyết định bị hủy, sửa” nói chung và “hủy, sửa do lỗi chủ quan của Tòa án”. Đối với án hủy, sửa, không nên chỉ nhìn vào tỷ lệ phần trăm mà cần phân tích nguyên nhân cụ thể, chẳng hạn như vi phạm tố tụng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, đánh giá chứng cứ chưa đúng, chưa toàn diện, áp dụng sai căn cứ pháp luật, xác định sai quan hệ pháp luật hoặc đối tượng khởi kiện, hay bản án tuyên không rõ, khó thi hành. Đối với đơn vị có số lượng án ít, cũng không nên đánh giá chỉ bằng tỷ lệ hủy, sửa trong một năm, bởi chỉ một vụ án bị hủy cũng có thể làm tỷ lệ tăng rất cao; nên xem xét kết hợp số tuyệt đối, tỷ lệ và kết quả bình quân nhiều năm.
3.2. Bộ tiêu chí và công thức lượng hóa theo khối lượng, cơ cấu công việc
Không nên giao chỉ tiêu giống nhau cho các Tòa án có điều kiện rất khác nhau, vì một vụ án đơn giản không thể coi tương đương với một vụ án có nhiều đương sự, nhiều tài liệu, phải xác minh tại nhiều cơ quan hoặc phải xem xét một quá trình quản lý nhà nước kéo dài nhiều năm. Trên tinh thần đó, có thể xây dựng Bộ tiêu chí gồm bốn nhóm:
Một là, nhóm tiêu chí về khối lượng, cơ cấu án, gồm số lượng án thụ lý bình quân của 03 năm liền kề (2024-2026) theo từng loại án, kết hợp hệ số phức tạp riêng cho từng loại (án hành chính, kinh doanh thương mại, sở hữu trí tuệ, tranh chấp tài sản số áp hệ số cao hơn; án hôn nhân gia đình thuận tình ly hôn, dân sự đơn giản áp hệ số thấp hơn);
Hai là, nhóm tiêu chí đặc thù địa bàn, phân loại theo đô thị đặc biệt/loại I, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có tính đến khoảng cách địa lý giữa các đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp;
Ba là, nhóm tiêu chí về nguồn lực, tổ chức bộ máy, gồm tỷ lệ biên chế Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký thực tế trên định mức được giao và tỷ lệ cán bộ mới bổ nhiệm, có thâm niên công tác nghiệp vụ dưới 2 năm;
Bốn là, nhóm tiêu chí công tác chuyên môn đặc thù, gồm kết quả hòa giải, đối thoại, công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và công tác trả lời, xử lý kiến nghị của Viện kiểm sát.
Trên cơ sở bộ tiêu chí này, có thể xây dựng công thức tính chỉ tiêu định lượng cho từng đơn vị theo mô hình đơn giản, dễ áp dụng bằng công cụ bảng tính thông thường, không đòi hỏi phần mềm phức tạp:
Chỉ tiêu định lượng của đơn vị = (Số án thụ lý bình quân 3 năm × Hệ số phức tạp cơ cấu án) : Số Thẩm phán thực tế được giao, sau đó điều chỉnh bằng hệ số đặc thù địa bàn.
Về nguồn số liệu, đề nghị Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê án dùng chung, cập nhật số liệu 3 năm gần nhất, công khai trong nội bộ Ngành để làm căn cứ giao chỉ tiêu hằng năm. Đây cũng là nội dung phù hợp với nhiệm vụ chuyển đổi số được xác định tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 34/2026/QH1613.
3.3. Cơ chế phân nhóm và điều chỉnh chỉ tiêu linh hoạt
Để chỉ tiêu vừa có tính phấn đấu, vừa sát thực tiễn, có thể áp dụng đồng thời ba giải pháp:
Một là, phân loại các Tòa án khu vực, Tòa án cấp tỉnh thành các nhóm theo khối lượng án (rất lớn, lớn, trung bình, ít) kết hợp đặc điểm địa bàn, để áp dụng mức chỉ tiêu phù hợp cho từng nhóm, không giao đồng loạt một mức chỉ tiêu cho các đơn vị có điều kiện khác nhau;
Hai là, xây dựng cơ chế điều chỉnh chỉ tiêu trong năm khi có biến động đột biến, như thiên tai, dịch bệnh, một vụ án hoặc nhóm vụ án đặc biệt phức tạp phát sinh đột xuất, hoặc thiếu hụt biên chế do nghỉ hưu, luân chuyển, biệt phái, theo hướng không áp dụng cứng nhắc chỉ tiêu hủy, sửa không quá 1,5% trong trường hợp bất khả kháng mà cần có đánh giá khách quan, tách bạch nguyên nhân chủ quan và khách quan;
Ba là, giao chỉ tiêu theo lộ trình, có sơ kết đánh giá giữa kỳ vào giữa năm để kịp thời điều chỉnh, tránh dồn áp lực vào cuối năm công tác.
3.4. Nhóm giải pháp riêng đối với án hành chính
Án hành chính cần được quan tâm bằng một nhóm giải pháp riêng khi triển khai Nghị quyết, bởi loại án này có tính chất phức tạp, liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước, hồ sơ do cơ quan hành chính quản lý và việc thu thập chứng cứ nhiều khi phụ thuộc vào sự phối hợp của cơ quan bị kiện. Vì vậy, không nên đánh giá chất lượng giải quyết án hành chính đơn thuần bằng tốc độ hoặc tỷ lệ giải quyết, mà nên tập trung vào năm giải pháp cụ thể:
Một là, kiểm soát ngay từ khi thụ lý, xác định đúng đối tượng khởi kiện, thẩm quyền, thời hiệu và người bị kiện;
Hai là, nâng cao chất lượng thu thập hồ sơ hành chính, yêu cầu cơ quan bị kiện cung cấp đầy đủ quyết định, hồ sơ, tài liệu làm căn cứ ban hành quyết định hoặc thực hiện hành vi hành chính;
Ba là, kiểm tra đầy đủ tính hợp pháp của quyết định, hành vi hành chính trên các phương diện thẩm quyền, căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế, trình tự, thủ tục và nội dung quyết định;
Bốn là, tăng cường đối thoại thực chất, nhất là với các vụ việc mà cơ quan hành chính có khả năng tự rà soát, sửa đổi hoặc khắc phục quyết định, hành vi chưa phù hợp, nhưng không nên biến tỷ lệ đối thoại thành chỉ tiêu gây áp lực đối với Thẩm phán hoặc người khởi kiện;
Năm là, tổ chức chuyên đề rút kinh nghiệm riêng đối với án hành chính bị hủy, sửa, nhất là các nhóm việc thường gặp như đất đai, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời theo dõi chỉ số nguyên nhân hủy, sửa theo từng nhóm sai sót thay vì chỉ công bố tỷ lệ chung, để xác định đúng nội dung cần đào tạo, hướng dẫn hoặc sửa đổi quy trình nghiệp vụ.
Khi một dạng sai sót lặp lại ở nhiều địa phương, cần nhanh chóng tổng hợp để có hướng dẫn nghiệp vụ chung, tránh mỗi nơi hiểu và áp dụng pháp luật một cách khác nhau, cũng là nội dung phù hợp với yêu cầu bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật được nêu tại điểm g khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 34/2026/QH16.
3.5. Chuyển từ “phát hiện quá hạn” sang “cảnh báo trước khi quá hạn”
Để thực hiện yêu cầu về thời hạn, không nên chờ đến cuối tháng, cuối quý hoặc cuối năm mới thống kê, mà cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với vụ án sắp hết thời hạn chuẩn bị xét xử, vụ án tạm đình chỉ kéo dài, vụ án nhiều lần hoãn phiên tòa, đơn giám đốc thẩm, tái thẩm tồn lâu hoặc sắp hết thời hạn kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát chưa được trả lời và quyết định thi hành án hình sự sắp đến hạn. Lãnh đạo đơn vị cần nhìn thấy sớm các vụ, việc có nguy cơ chậm tiến độ để kịp thời phân công, hỗ trợ hoặc tháo gỡ vướng mắc. Đối với đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, ngoài số lượng đơn đã giải quyết, cần quản lý cả “tuổi đơn”, ưu tiên các đơn tồn lâu, đơn sắp hết thời hạn kháng nghị và vụ việc có dấu hiệu sai sót nghiêm trọng.
3.6. Gắn chỉ tiêu với chất lượng đội ngũ Thẩm phán và nguồn lực thực hiện
Nếu tăng yêu cầu nhưng không tính đến nguồn lực thì khó bảo đảm chất lượng bền vững. Bốn giải pháp cần triển khai đồng bộ là:
Một là, phân bổ Thẩm phán và biên chế dựa nhiều hơn vào khối lượng, tính chất công việc thực tế, khắc phục tình trạng thiếu Thư ký tại các Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm trong khi bố trí đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên có nhiều kinh nghiệm cho các đơn vị nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao;
Hai là, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng dựa trên những sai sót đã phát hiện qua án hủy, sửa và kiểm tra nghiệp vụ, theo hướng đơn vị sai nhiều về chứng cứ thì bồi dưỡng về chứng cứ, sai về tố tụng thì tập trung tố tụng, án hành chính sai nhiều về đối tượng khởi kiện, thời hiệu hoặc đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính thì tổ chức chuyên đề đúng vào nội dung đó;
Ba là, cập nhật đầy đủ các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán trên phần mềm công khai bản án, tổ chức nghiên cứu thường xuyên để rút kinh nghiệm, phòng ngừa sai sót;
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số để số liệu được hình thành trực tiếp từ hệ thống nghiệp vụ, hạn chế báo cáo thủ công, bảo đảm số liệu đầy đủ, chính xác, trung thực, thống nhất theo năm dương lịch như yêu cầu tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết.
4. Phân công tổ chức thực hiện
Thời gian không còn nhiều, nên thay vì một lộ trình dàn trải nhiều bước, việc tổ chức thực hiện cần được dồn vào một đợt phân công đồng thời, rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, để kịp có hiệu lực cùng lúc với Nghị quyết.
Do chỉ tiêu công tác theo phương pháp mới phải được áp dụng ngay từ ngày 01/01/2027 - thời điểm Nghị quyết có hiệu lực thi hành14 - toàn Ngành không còn nhiều thời gian để triển khai tuần tự theo từng giai đoạn như thông thường, mà cần phân công đồng thời, khẩn trương ngay trong quý IV/2026, cụ thể: giao Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học chủ trì, phối hợp với các Vụ Giám đốc, kiểm tra của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh khẩn trương xây dựng dự thảo, lấy ý kiến toàn Ngành và trình Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Bộ tiêu chí, Quy chế giao chỉ tiêu ngay trong tháng 12/2026; đồng thời, Cục Công nghệ thông tin phối hợp Cục Kế hoạch - Tài chính sớm hoàn thiện, đưa vào vận hành phần mềm quản lý án toàn trình và cơ sở dữ liệu thống kê án dùng chung để làm căn cứ tính toán chỉ tiêu ngay khi Bộ tiêu chí được ban hành; song song đó, Vụ Tổ chức - Cán bộ tổ chức tập huấn, hướng dẫn thống nhất cho Tòa án nhân dân các cấp trước ngày 31/12/2026, bảo đảm toàn Ngành áp dụng đồng bộ chỉ tiêu mới ngay từ ngày 01/01/2027 và tiếp tục theo dõi, điều chỉnh linh hoạt trong quá trình thực hiện theo giải pháp đã nêu ở trên.
5. Một số kiến nghị và kết luận
Trên cơ sở toàn bộ phân tích và đề xuất nêu trên, tác giả đưa ra một số kiến nghị cụ thể và kết luận:
Một là, Hội đồng Thẩm phán, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành Bộ tiêu chí và Quy chế giao chỉ tiêu công tác theo phương pháp định lượng nêu trên, áp dụng thống nhất trong toàn Ngành theo lộ trình đã nêu ở trên, phù hợp thời điểm Nghị quyết có hiệu lực thi hành15;
Hai là, nghiên cứu phương pháp giao chỉ tiêu theo khối lượng công việc, cơ cấu án và mức độ phức tạp, tránh giao cơ học như nhau giữa các đơn vị có điều kiện khác nhau;
Ba là, giao đơn vị chức năng thuộc Tòa án nhân dân tối cao xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê án dùng chung, phối hợp các Tòa án địa phương rà soát, phản biện số liệu trước khi chính thức giao chỉ tiêu;
Bốn là, xây dựng cơ chế quản trị riêng đối với án hành chính, tập trung vào chất lượng thu thập chứng cứ, kiểm tra tính hợp pháp của quyết định hành chính, đối thoại thực chất và phân tích nguyên nhân án bị hủy, sửa theo từng nhóm sai sót; năm là, xây dựng hệ thống theo dõi, cảnh báo sớm để lãnh đạo đơn vị quản lý được tiến độ và chất lượng ngay trong quá trình giải quyết vụ án, thay vì chỉ đánh giá khi kết thúc năm công tác; sáu là, định kỳ sơ kết, tổng kết, đánh giá tính phù hợp của phương pháp giao chỉ tiêu để tiếp tục hoàn thiện, báo cáo Quốc hội theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết.
Nghị quyết số 34/2026/QH16 đã đặt ra một cách tiếp cận mới đối với việc quản lý chất lượng, hiệu quả công tác của Tòa án nhân dân: quản lý bằng số liệu nhưng đánh giá bằng chất lượng, hướng tới mục tiêu xét xử đúng pháp luật hơn là chỉ đạt con số16. Để hiện thực hóa tinh thần đó, phương pháp giao chỉ tiêu công tác cần được xây dựng trên cơ sở dung hòa cả ba góc nhìn - quản lý, chuyên môn xét xử và tham mưu chiến lược - đồng thời được cụ thể hóa thành kế hoạch hành động có lộ trình, có kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh liên tục. Đây là điều kiện tiên quyết để Nghị quyết được triển khai thực chất, hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu cải cách tư pháp mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân đặt ra.
1 Nghị quyết số 34/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án.
2 Báo điện tử Chính phủ, “Công bố 16 nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội”, https://baochinhphu.vn/cong-bo-16-nghi-quyet-cua-quoc-hoi-va-uy-ban-thuong-vu-quoc-hoi-102260830130246321.htm.
3 Nghị quyết số 96/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án.
4 Hồng Hà, “Nghị quyết 34/2026/QH16: Không ấn định tỷ lệ, nhưng không buông trách nhiệm”, https://lsvn.vn/nghi-quyet-34-2026-qh16-khong-an-dinh-ty-le-nhung-khong-buong-trach-nhiem-a178755.html.
5 Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 96/2019/QH14.
6 Điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 34/2026/QH16.
8 Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 96/2019/QH14; Điểm b khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 34/2026/QH16.
9 Điểm b khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 34/2026/QH16.
10 Mai Đỉnh, “Các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân và công tác Thẩm phán”, Báo Công lý, ngày 30/6/2025, truy cập tại: https://congly.vn/cac-nghi-quyet-cua-uy-ban-thuong-vu-quoc-hoi-ve-hoat-dong-cua-he-thong-toa-an-nhan-dan-va-cong-tac-tham-phan-484233.html .
11 Mai Đỉnh, Tlđd (10).
12 Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 34/2026/QH16.
13 Điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 34/2026/QH16.
14 khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 34/2026/QH16.
15 khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 34/2026/QH16.
16 Hồng Hà, Tlđd(4).
Trụ sở Tòa án nhân dân tối cao.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Những điểm mới của dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự
-
Đồng Nai: Tổ chức phiên tòa giả định tuyên truyền pháp luật về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
-
Quán triệt, triển khai một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị trong Tòa án nhân dân
-
Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quy định về một số chế độ, chính sách hỗ trợ đối với công chức được biệt phái
-
Thông tư 16/2026/TT-TANDTC: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu Tòa án cung cấp thông tin
Bình luận