Người vay dùng tiền lừa đảo để trả nợ, người cho vay có trách nhiệm trả lại không?
(TCTA) - Do vay nợ không có tiền chi trả, H đã lừa đảo chiếm đoạt tiền của các bị hại và dùng tiền này trả nợ. Xác định trách nhiệm của người cho vay liên quan đến số tiền lừa đảo như thế nào?
Từ tháng 10/2020 đến tháng 01/2021, do cần tiền để trả nợ, Dương Hữu H nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản. H đã đưa ra thông tin gian dối rằng đang cần vốn làm ăn, biết được có lô hàng thiết bị điện tử giá rẻ, muốn vay tiền để mua về bán lại với giá cao kiếm lời. Bằng thủ đoạn này, H đã lừa vay tiền của bà N, ông T, chị L với tổng số tiền 3.500.000.000 đồng, trong đó, của bà N là: 2.300.000.000 đồng, ông T là 900.000.000 đồng, chị L là 300.000.000 đồng.
Sau khi chiếm đoạt được tiền của các bị hại, H đem đi trả nợ cho ông D số tiền 350.000.000 đồng, bà Y số tiền 500.000.000 đồng, anh B số tiền 1.500.000.000 đồng. Số tiền còn lại, H dùng tiêu xài cá nhân và đánh bạc hết.
Có đủ cơ sở khẳng định với hành vi đã thực hiện, H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, đối với việc xác định trách nhiệm dân sự trong vụ án thì còn có các quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất: Trách nhiệm bồi thường cho các bị hại thuộc về bị cáo, những người được H trả nợ không liên quan và không có trách nhiệm gì trong vụ án nên không xác định tư cách tham gia tố tụng. Hành vi phạm tội được H thực hiện một mình, việc H đem tiền lừa đảo được trả cho ông D, bà Y, anh B là việc H đang tự giác trả nợ. Việc vay nợ thông qua giao dịch dân sự hợp pháp, ông D, bà Y, anh B là những không biết và không cần phải biết số tiền H trả nợ là do H phạm tội mà có. Tiền lúc này là tài sản của chủ sở hữu đã nhận, khoản tiền không còn sự quản lý của H. Tiền là vật đặc định, đã hòa trộn trong tài khoản của người nhận một cách ngay tình và được chuyển hóa qua việc thanh toán trong các giao dịch dân sự, do đó không còn là vật chứng trong vụ án nên không thu hồi trả cho các bị hại. Do đó, chỉ buộc H bồi thường cho các bị hại.
Quan điểm thứ hai: Trách nhiệm bồi thường cho các bị hại thuộc về bị cáo, tuy nhiên những người được H trả nợ có liên quan và có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền đã nhận từ H cho các bị hại, nên cần xác định tư cách tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Đây là tiền - tang vật của vụ án cần phải thu hồi để hoàn trả cho người bị hại. Bởi theo khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc trả lại tài sản bị chiếm đoạt, vật chứng cho chủ sở hữu. Mặc dù ông D, bà Y, anh B không biết số tiền đó là do phạm tội mà có, là người thứ ba ngay tình nhưng trong vụ án hình sự, vật chứng phải được xử lý theo quy định tại Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trên đây, là các quan điểm khác nhau về việc xác định trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự, tác giả rất mong nhận được ý kiến trao đổi từ quý bạn đọc./.
Các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm vụ án “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử trực tuyến. Nguồn ảnh: Internet.
Bài liên quan
-
Giải quyết xung đột pháp lý giữa tịch thu vật chứng hình sự và bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba ngay tình
-
Trao đổi về bài viết: “Về xác đinh tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự”
-
Về xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự
-
Tòa án Quân sự Trung ương xét xử phúc thẩm vụ án sân bay Nha Trang, nhiều nhà đầu tư đề nghị được công nhận là bên thứ ba ngay tình
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tòa phúc thẩm tuyên hủy án, điều tra lại vụ cựu Hiệu trưởng thu sai tiền dạy thêm
-
TANDTC họp giao ban công tác, tập trung hoàn thành nhiệm vụ trọng tâm năm 2026
-
Sôi nổi Giải thể thao Tòa án nhân dân năm 2026
-
TAND Hà Tĩnh tổ chức Giải Pickleball, Kéo co chào mừng 81 năm Ngày truyền thống Tòa án nhân dân
-
Bảo vệ quyền của nạn nhân tội phạm mua bán người theo Công ước ACTIP và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam
Bình luận