Biện pháp giám sát điện tử thay thế tạm giam: Điều kiện áp dụng, bảo đảm quyền của người bị buộc tội và cơ chế kiểm soát tư pháp
Electronic supervision as an alternative to detention: conditions for application, protection of the accused’s rights, and judicial control mechanism
(TCTA) - Trên cơ sở chủ trương hạn chế tạm giam, mở rộng biện pháp thay thế được quán triệt tại dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), bài viết phân tích quy định về biện pháp giám sát điện tử tại Điều 134 dự thảo (dự thảo ngày 15/10/2026), đối chiếu với các biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam hiện hành, làm rõ thẩm quyền của Tòa án và Thẩm phán trong việc quyết định, thay đổi, hủy bỏ biện pháp này, đồng thời nhận diện những vướng mắc có thể phát sinh từ thực tiễn xét xử, nhất là ở các Tòa án khu vực miền núi, biên giới. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện dự thảo, bảo đảm vừa thu hẹp phạm vi tạm giam, vừa duy trì hiệu quả kiểm soát tư pháp và bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội.
Đặt vấn đề
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình sự, tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể của người bị buộc tội trong khi nguyên tắc suy đoán vô tội vẫn đang được bảo đảm. Thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 hơn tám năm qua cho thấy, tỷ lệ áp dụng tạm giam trong nhiều loại án còn cao hơn mức cần thiết so với mục đích ngăn chặn hành vi bỏ trốn, cản trở điều tra hoặc tiếp tục phạm tội, trong khi các biện pháp thay thế như bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú lại chưa phát huy hết vai trò do thiếu công cụ giám sát hữu hiệu ngoài cam kết của bị can, bị cáo và gia đình.
Trước yêu cầu cải cách tư pháp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật đã yêu cầu việc sửa đổi BLTTHS phải được đặt trong tổng thể cải cách tư pháp, dựa trên các nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch, hiệu quả và nhân văn. Trên tinh thần đó, dự thảo BLTTHS (sửa đổi) đã quán triệt nguyên tắc tạm giam chỉ là biện pháp ngăn chặn cuối cùng, đồng thời bổ sung một biện pháp hoàn toàn mới là giám sát điện tử, cho phép cơ quan có thẩm quyền theo dõi vị trí và hành vi của bị can, bị cáo bằng thiết bị công nghệ thay vì cách ly họ khỏi đời sống xã hội.
Ở bình diện lý luận, sự xuất hiện của giám sát điện tử phản ánh xu hướng chung của tố tụng hình sự hiện đại, theo đó, việc lựa chọn biện pháp ngăn chặn không còn giới hạn trong hai thái cực là cách ly hoàn toàn bằng tạm giam hoặc chỉ ràng buộc bằng cam kết như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, mà mở rộng thành một chuỗi các mức độ can thiệp khác nhau, tương ứng với từng cấp độ rủi ro bỏ trốn, cản trở tố tụng hoặc tái phạm của người bị buộc tội. Đây cũng là hướng đi phù hợp với khuyến nghị của nhiều thiết chế nhân quyền quốc tế về việc bảo đảm tạm giam trước xét xử chỉ được áp dụng như biện pháp cuối cùng, sau khi đã cân nhắc đầy đủ các biện pháp ít nghiêm khắc hơn.
Tuy nhiên, một biện pháp ngăn chặn vận hành bằng công nghệ giám sát liên tục đặt ra yêu cầu thiết kế pháp lý chặt chẽ hơn nhiều so với các biện pháp truyền thống, bởi nó vừa phải bảo đảm hiệu quả phòng ngừa tương đương tạm giam, vừa không được biến tướng thành một hình thức giam giữ khác thiếu sự kiểm soát của các cơ quan tố tụng, đặc biệt là của Tòa án với vai trò là cơ quan xét xử, cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Bài viết này tập trung phân tích quy định về giám sát điện tử tại Điều 134 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), làm rõ điểm mới so với pháp luật hiện hành, nhận diện vướng mắc có thể phát sinh khi áp dụng tại thực tiễn xét xử, nhất là ở các Tòa án khu vực, từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.
2. Quy định cụ thể trong dự thảo
Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) gồm 527 điều, trong đó bổ sung mới 34 điều, sửa đổi, bổ sung 246 điều và giữ nguyên 247 điều (dự thảo ngày 15/10/2026). Biện pháp giám sát điện tử được thiết kế thành một điều luật độc lập là Điều 134, đặt trong nhóm quy định về biện pháp ngăn chặn.
Về bản chất, khoản 1 Điều 134 xác định giám sát điện tử là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam, được áp dụng căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo; Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều có thẩm quyền quyết định áp dụng, tương tự cách thiết kế đối với bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm. Khoản 2 yêu cầu bị can, bị cáo làm giấy cam đoan thực hiện năm nhóm nghĩa vụ, gồm: không đi khỏi phạm vi giám sát đã ấn định, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và được cho phép; có mặt theo giấy triệu tập; không bỏ trốn, không tiếp tục phạm tội; không cản trở hoạt động tố tụng, như mua chuộc, ép buộc người khác khai báo gian dối, tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tẩu tán tài sản, đe dọa, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người thân thích của họ; không tháo, phá hủy hoặc gây rối loạn hoạt động của thiết bị giám sát điện tử.
Về căn cứ áp dụng, Điều 134 được thiết kế tương tự Điều 121 về bảo lĩnh của BLTTHS năm 2015, cùng dựa trên hai yếu tố là tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, song không đòi hỏi có người hoặc tổ chức đứng ra bảo lĩnh như Điều 121, cũng không đòi hỏi điều kiện về tài sản như Điều 122 về đặt tiền để bảo đảm. Nhờ vậy, giám sát điện tử là một lựa chọn độc lập, không phụ thuộc vào quá trình nhân thân hay năng lực tài chính của bị can, bị cáo và gia đình, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận biện pháp thay thế tạm giam cho cả những người không có thân nhân bảo lĩnh hoặc không có khả năng đặt tiền.
Về thẩm quyền ra quyết định, khoản 3 Điều 134 dẫn chiếu những người có thẩm quyền tại khoản 1 Điều 124 về bắt bị can, bị cáo để tạm giam, gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, đồng thời bổ sung Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, một chức danh không có trong danh sách tại khoản 1 Điều 124, và yêu cầu nêu rõ phạm vi giám sát trong quyết định. Quyết định của những người thuộc điểm a khoản 1 Điều 124, tức phía Cơ quan điều tra, phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành; quyết định của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không qua thủ tục này. Đây không phải kỹ thuật riêng của Điều 134, vì khoản 4 Điều 132 về bảo lĩnh cũng quy định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định theo cấu trúc tương tự. Việc Thẩm phán chủ tọa quyết định giám sát điện tử mà không cần Viện kiểm sát phê chuẩn vì vậy là một phần của cơ chế thẩm quyền chung đã được dự thảo nhất quán hóa cho các biện pháp thay thế tạm giam, không phải đặc quyền riêng của biện pháp mới.
Về thời hạn và thi hành, khoản 4 Điều 134 giới hạn thời hạn giám sát điện tử không vượt quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử tương ứng với từng giai đoạn tố tụng; đối với người đã bị kết án phạt tù, không vượt quá khoảng thời gian từ khi tuyên án đến khi người đó đi chấp hành án. Khoản 5 yêu cầu người ra quyết định gửi ngay quyết định cho bị can, bị cáo và người đại diện, đồng thời thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú để quản lý thi hành; việc tạm thời rời phạm vi giám sát vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan phải được Ủy ban nhân dân cấp xã đồng ý và có giấy phép của người đã ra quyết định. Khoản 6 quy định bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan sẽ bị tạm giam, Ủy ban nhân dân cấp xã báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định để xử lý; khoản 7 dẫn chiếu quy định chung về hủy bỏ, thay thế biện pháp ngăn chặn; khoản 8 giao Chính phủ quy định chi tiết về trình tự thông báo, giao nhận và xử lý vi phạm.
Về kỹ thuật vận hành, Điều 134 chưa quy định cấu trúc thiết bị và trung tâm giám sát mà giao Chính phủ, song có thể tham chiếu mô hình đã được đề xuất trong các văn bản liên quan gần đây: người bị giám sát được gắn thiết bị định vị, nhận dạng từ xa, thường là vòng đeo tay hoặc đeo chân, tự động cảnh báo đến trung tâm giám sát khi rời phạm vi đã ấn định hoặc can thiệp trái phép vào thiết bị. Do dự thảo Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi) cũng đang song song bổ sung giám sát điện tử đối với người chấp hành án tại cộng đồng, nếu hai văn bản không dùng chung chuẩn kỹ thuật và đầu mối trung tâm giám sát thì nguy cơ chồng chéo hạ tầng, lãng phí ngân sách là hoàn toàn có thể xảy ra. Tuy nhiên, giám sát điện tử đối với bị can, bị cáo có bản chất khác với giám sát đối với người sau cai nghiện ma túy hoặc người chấp hành án tại cộng đồng, bởi đối tượng áp dụng Điều 134 vẫn đang được suy đoán vô tội; mức độ can thiệp, phạm vi thu thập dữ liệu và thời hạn lưu trữ thông tin giám sát vì vậy cần được thiết kế thận trọng hơn, tránh áp dụng máy móc cơ chế kỹ thuật của các lĩnh vực khác.
3. Điểm mới so với pháp luật hiện hành
BLTTHS hiện hành đã có ba biện pháp ngăn chặn được coi là thay thế tạm giam, gồm bảo lĩnh theo Điều 121, đặt tiền để bảo đảm theo Điều 122 và cấm đi khỏi nơi cư trú theo Điều 123. Điểm chung của cả ba biện pháp này là cơ chế bảo đảm chủ yếu dựa trên cam kết danh dự hoặc tài sản của bị can, bị cáo, người bảo lĩnh, kết hợp với biện pháp xử lý hành chính hoặc tố tụng khi phát hiện vi phạm thông qua báo cáo, kiểm tra định kỳ của chính quyền địa phương hoặc cơ quan tố tụng, mà không có công cụ giám sát vị trí liên tục, chủ động.
Thứ nhất, về phương thức kiểm soát, giám sát điện tử tạo ra bước chuyển từ cơ chế giám sát thụ động, dựa vào cam kết và kiểm tra định kỳ, sang cơ chế giám sát chủ động, gần như liên tục bằng thiết bị công nghệ gắn trên cơ thể người bị áp dụng. Đây là sự khác biệt căn bản về phương thức kỹ thuật lập pháp, cho phép cơ quan có thẩm quyền phát hiện gần như tức thời hành vi rời khỏi phạm vi giám sát hoặc can thiệp vào thiết bị, thay vì chỉ phát hiện vi phạm sau khi hậu quả bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội đã xảy ra.
Thứ hai, về mức độ can thiệp vào đời sống người bị áp dụng, giám sát điện tử đứng ở vị trí trung gian giữa cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm giam. So với cấm đi khỏi nơi cư trú, giám sát điện tử có tính cưỡng chế công nghệ cao hơn do gắn thiết bị theo dõi liên tục lên cơ thể, nhưng so với tạm giam thì vẫn cho phép người bị áp dụng sinh hoạt, lao động tại cộng đồng, duy trì quan hệ gia đình và xã hội. Do đó, việc lựa chọn áp dụng giám sát điện tử thay vì cấm đi khỏi nơi cư trú hay bảo lĩnh cần căn cứ vào đánh giá rủi ro bỏ trốn hoặc tái phạm cụ thể, tránh áp dụng tràn lan gây tốn kém ngân sách và ảnh hưởng không cần thiết đến quyền riêng tư của người bị buộc tội.
Thứ ba, về đối tượng và phạm vi áp dụng, tại Hội nghị khảo sát ý kiến do Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức ngày 07/9/2026, tại thành phố H, đại diện Công an thành phố H đã đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu quy định giám sát điện tử là một biện pháp ngăn chặn độc lập, thay vì chỉ giới hạn là biện pháp thay thế tạm giam như dự thảo hiện tại, với lý do trên thực tế có những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng nhưng chưa đủ căn cứ áp dụng tạm giam lại có nguy cơ bỏ trốn, cần một cơ chế giám sát chặt hơn cấm đi khỏi nơi cư trú mà không nhất thiết phải gắn với việc thay thế tạm giam. Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo cho biết đề xuất theo hướng biện pháp ngăn chặn độc lập từng được các đơn vị tham mưu của Bộ Công an nêu ra, tuy nhiên sau quá trình trao đổi, Bộ Công an đã thống nhất giữ nguyên như dự thảo, coi giám sát điện tử là biện pháp thay thế tạm giam, theo cách quy định tương tự như trong Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Theo quan điểm của tác giả, cách tiếp cận hiện tại của dự thảo BLTTHS (sửa đổi), coi giám sát điện tử là biện pháp thay thế tạm giam gắn liền với các căn cứ áp dụng tạm giam, có ưu điểm là bảo đảm tính thống nhất, dễ kiểm soát về mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng, tránh mở rộng phạm vi hạn chế quyền tự do đi lại của công dân ra ngoài các trường hợp thực sự cần thiết theo tinh thần hạn chế tạm giam mà dự thảo đang theo đuổi. Tuy nhiên, ý kiến của Công an thành phố H cũng phản ánh một nhu cầu thực tiễn xác đáng, đó là những trường hợp chưa đủ căn cứ tạm giam nhưng cấm đi khỏi nơi cư trú không đủ sức răn đe, do vậy cơ quan soạn thảo cần cân nhắc bổ sung hướng dẫn áp dụng linh hoạt, cho phép chuyển đổi giữa các biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam theo mức độ rủi ro, thay vì buộc phải lựa chọn dứt khoát giữa tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú như thực tiễn hiện hành.
Thứ tư, về kinh nghiệm lập pháp nước ngoài mà cơ quan soạn thảo đã tham khảo, giám sát điện tử tại nhiều quốc gia được sử dụng với ba mục đích chính, gồm giảm áp dụng tạm giam trước xét xử, thay thế hình phạt tù bằng hình thức cải tạo không giam giữ sau khi kết án, và làm điều kiện cho việc trả tự do trước thời hạn hoặc ân xá có điều kiện. Kinh nghiệm của Thái Lan sau ba năm triển khai gắn vòng giám sát điện tử cho thấy tỷ lệ người vi phạm nghĩa vụ giám sát ở mức thấp, đồng thời giúp giảm đáng kể chi phí quản lý so với giam giữ tập trung, đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để cơ quan soạn thảo tin tưởng vào tính khả thi của biện pháp này khi áp dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, điều kiện hạ tầng viễn thông, mật độ dân cư và năng lực quản lý dữ liệu giữa các quốc gia có tham khảo với thực tiễn Việt Nam, đặc biệt là các địa bàn miền núi, biên giới, có sự khác biệt đáng kể, nên việc áp dụng kinh nghiệm quốc tế cần đi kèm đánh giá tác động thận trọng theo từng vùng, miền trước khi triển khai đại trà.
4. Vướng mắc, tác động qua thực tiễn xét xử
Từ thực tiễn công tác xét xử tại các Tòa án nhân dân khu vực, đặc biệt là các đơn vị đóng trên địa bàn miền núi, biên giới, việc triển khai biện pháp giám sát điện tử theo dự thảo có thể phát sinh một số vướng mắc cần được lường trước trong quá trình xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành.
Thứ nhất, về hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực triển khai, việc vận hành hệ thống giám sát điện tử đòi hỏi hạ tầng viễn thông ổn định, trung tâm giám sát tập trung và đội ngũ vận hành chuyên trách. Đối với các Tòa án khu vực đóng ở địa bàn miền núi, biên giới, nơi hạ tầng viễn thông còn hạn chế, tín hiệu định vị không ổn định, việc bảo đảm thiết bị giám sát điện tử hoạt động liên tục, không bị gián đoạn tín hiệu là một thách thức thực tế, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định bị can, bị cáo có vi phạm nghĩa vụ cam đoan hay không.
Thứ hai, về giá trị chứng cứ của dữ liệu giám sát điện tử, dự thảo BLTTHS (sửa đổi) hiện chưa quy định cụ thể dữ liệu vị trí, dữ liệu cảnh báo do thiết bị giám sát điện tử ghi nhận có được coi là chứng cứ điện tử theo các quy định chung về chứng cứ hay không, quy trình thu thập, trích xuất, bảo quản dữ liệu này để bảo đảm tính khách quan, không bị chỉnh sửa khi phát sinh tranh chấp về việc bị can, bị cáo có rời khỏi phạm vi giám sát hay không. Nếu thiếu quy định rõ ràng, việc xử lý vi phạm nghĩa vụ cam đoan theo khoản 6 Điều 134 Dự thảo, dẫn đến hậu quả tạm giam, có nguy cơ thiếu căn cứ pháp lý vững chắc, ảnh hưởng đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Vấn đề này cần được nhìn nhận trong mối liên hệ với nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 14 Dự thảo, theo đó khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ buộc tội, kết tội thì phải kết luận người bị buộc tội không có tội, do vậy tín hiệu cảnh báo từ thiết bị, vốn không tránh khỏi sai số hoặc trục trặc kỹ thuật, không nên được coi là căn cứ duy nhất để kết luận vi phạm và áp dụng ngay biện pháp tạm giam mà không qua bước xác minh, đối chiếu độc lập.
Thứ ba, về chi phí và trách nhiệm chi trả, kinh nghiệm xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến thiết bị giám sát điện tử trong lĩnh vực thi hành án hình sự cho thấy, chi phí mua sắm thiết bị, xây dựng trung tâm giám sát và duy trì vận hành là không nhỏ. Nếu ngân sách nhà nước phải chi trả toàn bộ cho mọi trường hợp áp dụng, cần có lộ trình đầu tư phù hợp với khả năng ngân sách địa phương, tránh tình trạng quy định có hiệu lực nhưng không đủ điều kiện vật chất để triển khai đồng bộ trên cả nước, tương tự bài học từ quy định về ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can theo khoản 6 Điều 183 BLTTHS năm 2015. Dù quy định này đã có hiệu lực từ năm 2018, thực tiễn triển khai trong nhiều năm sau đó cho thấy không ít Cơ quan điều tra cấp huyện chưa được trang bị thiết bị ghi âm, ghi hình, chưa xây dựng được phòng hỏi cung đạt chuẩn, buộc Thủ tướng Chính phủ phải phê duyệt một đề án riêng về cơ sở vật chất, bộ máy, cán bộ và lộ trình thực hiện theo hướng thí điểm tại một số đơn vị, địa phương trước khi mở rộng ra toàn quốc. Nếu không rút kinh nghiệm từ thực tiễn này, biện pháp giám sát điện tử, với yêu cầu hạ tầng kỹ thuật phức tạp và tốn kém hơn nhiều so với việc trang bị thiết bị ghi âm, ghi hình, sẽ khó tránh khỏi tình trạng quy định có hiệu lực trên giấy nhưng chậm đi vào thực tiễn tại các địa phương có nguồn lực hạn chế, trong đó có nhiều Tòa án khu vực miền núi, biên giới.
Thứ tư, xét trên bình diện đánh giá xã hội đối với người bị áp dụng biện pháp này, việc mang thiết bị giám sát điện tử trên cơ thể trong sinh hoạt thường ngày tại cộng đồng, tuy không bị cách ly như tạm giam nhưng vẫn là một hình thức cưỡng chế công nghệ liên tục, có thể tạo ra sự kỳ thị xã hội nhất định đối với người bị áp dụng và gia đình họ, ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm việc làm, duy trì quan hệ xã hội bình thường trong thời gian tố tụng, nhất là ở các cộng đồng dân cư nhỏ, gắn kết chặt chẽ như nhiều địa bàn nông thôn, miền núi. Đây là khía cạnh cần được cân nhắc khi thiết kế quy trình giao nhận, quản lý thiết bị, theo hướng bảo đảm kín đáo, hạn chế tối đa việc phơi bày tình trạng tố tụng của người bị buộc tội ra cộng đồng, phù hợp với nguyên tắc suy đoán vô tội khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Thứ năm, về sự phối hợp giữa Tòa án với chính quyền cấp xã trong việc thi hành quyết định giám sát điện tử, khoản 5 Điều 134 Dự thảo giao trách nhiệm quản lý, tiếp nhận bị can, bị cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, đồng thời khoản 6 giao chính quyền cấp xã trách nhiệm báo cáo vi phạm cho cơ quan đã ra quyết định. Trong mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp hiện nay, năng lực chuyên môn về pháp luật tố tụng hình sự của cán bộ cấp xã, đặc biệt tại các xã miền núi, biên giới có địa bàn rộng, dân cư thưa, còn hạn chế, trong khi việc kịp thời phát hiện, báo cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả phòng ngừa của biện pháp giám sát điện tử. Nếu thiếu cơ chế tập huấn, phối hợp thông tin thông suốt giữa Tòa án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát với chính quyền cấp xã, hiệu quả thực tế của biện pháp giám sát điện tử có thể không đạt được như kỳ vọng của nhà làm luật.
Thứ sáu, về bảo đảm quyền bào chữa, khi bị can, bị cáo bị coi là vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản 2 Điều 134 Dự thảo và bị áp dụng biện pháp tạm giam theo khoản 6, quy trình hiện tại chưa quy định rõ bị can, bị cáo hoặc người bào chữa có được trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ phản bác trước khi quyết định tạm giam được ban hành hay không. Việc chuyển từ giám sát điện tử sang tạm giam là một sự thay đổi đáng kể về mức độ hạn chế quyền tự do thân thể, do vậy, cần có cơ chế tố tụng bảo đảm quyền được biết, được giải trình của người bị buộc tội trước khi áp dụng biện pháp nghiêm khắc hơn, tránh tình trạng quyết định được ban hành chỉ dựa trên báo cáo một chiều từ phía cơ quan quản lý kỹ thuật hoặc chính quyền cấp xã.
Thứ bảy, về điều kiện lắp đặt, vận hành thiết bị tại nơi cư trú của bị can, bị cáo, khác với cấm đi khỏi nơi cư trú hay bảo lĩnh vốn chỉ đòi hỏi đánh giá về nhân thân, nơi cư trú, người bảo lĩnh, việc quyết định áp dụng giám sát điện tử theo Điều 134 dự thảo còn đặt ra một yêu cầu thực sự mới là phải đánh giá được điều kiện hạ tầng kỹ thuật tại chính nơi cư trú của bị can, bị cáo, như khả năng phủ sóng viễn thông, khả năng kết nối tín hiệu định vị của thiết bị. Đây là loại thông tin mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hiện chưa có quy trình thu thập, xác minh trước khi ra quyết định, trong khi nếu quyết định áp dụng giám sát điện tử được ban hành mà nơi cư trú của bị can, bị cáo không bảo đảm điều kiện kỹ thuật để thiết bị hoạt động ổn định, biện pháp này có nguy cơ mất tác dụng giám sát ngay từ khi triển khai, đặc biệt tại các địa bàn miền núi, biên giới nơi hạ tầng viễn thông còn chưa đồng bộ.
Thứ tám, về thời hạn xem xét lại biện pháp ngăn chặn khi hồ sơ vụ án chuyển sang giai đoạn xét xử, khoản 1 Điều 295 Dự thảo tuy đã xác định rõ Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là những người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế sau khi thụ lý vụ án, nhưng chưa ấn định một thời hạn cụ thể để người có thẩm quyền phải hoàn thành việc xem xét lại này kể từ ngày thụ lý. Đối với các biện pháp như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, khoảng thời gian chưa được xem xét lại thường không phát sinh hệ quả kỹ thuật đáng kể, nhưng đối với giám sát điện tử, việc chậm xem xét lại có thể ảnh hưởng đến công tác quản lý, vận hành thiết bị và trách nhiệm giám sát của Ủy ban nhân dân cấp xã trong giai đoạn chuyển tiếp, do đó cần được quy định với thời hạn xác định, ràng buộc chặt chẽ hơn.
5. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trên cơ sở phân tích quy định của dự thảo BLTTHS (sửa đổi) và nhận diện các vướng mắc thực tiễn nêu trên, tác giả xin đề xuất một số kiến nghị như sau.
Thứ nhất, cần quy định rõ giá trị pháp lý của dữ liệu do thiết bị giám sát điện tử ghi nhận, xác định đây là một loại chứng cứ điện tử theo quy định chung về chứng cứ của Bộ luật, đồng thời giao Chính phủ hoặc liên ngành tố tụng trung ương hướng dẫn cụ thể quy trình thu thập, trích xuất, bảo quản dữ liệu, cơ chế chứng minh tính toàn vẹn của dữ liệu khi được sử dụng làm căn cứ xử lý vi phạm nghĩa vụ cam đoan, bảo đảm quyền tranh tụng của bị can, bị cáo trước khi bị áp dụng biện pháp tạm giam theo khoản 6 Điều 134 Dự thảo.
Thứ hai, kiến nghị xây dựng lộ trình triển khai theo địa bàn, ưu tiên thí điểm tại các địa phương có hạ tầng viễn thông ổn định trước khi mở rộng đến các Tòa án khu vực miền núi, biên giới, đồng thời có cơ chế ngân sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật, trung tâm giám sát điện tử cho các địa bàn còn khó khăn, tránh tình trạng quy định pháp luật đã có hiệu lực nhưng thiếu điều kiện vật chất bảo đảm thi hành thống nhất trên phạm vi cả nước.
Thứ ba, cần bổ sung quy định về bảo vệ danh dự, nhân phẩm và quyền riêng tư của người bị áp dụng giám sát điện tử trong quy trình giao nhận, quản lý thiết bị, theo hướng hạn chế tối đa việc công khai tình trạng tố tụng ra cộng đồng dân cư, phù hợp với nguyên tắc suy đoán vô tội, đồng thời nghiên cứu quy định cơ chế xử lý trách nhiệm đối với hành vi lạm dụng thông tin giám sát điện tử để xâm phạm đời sống riêng tư của người bị buộc tội. Thiết bị giám sát nên được thiết kế nhỏ gọn, kín đáo, hạn chế tối đa khả năng nhận diện từ bên ngoài, đồng thời cán bộ được giao nhiệm vụ giao nhận, kiểm tra thiết bị cần được quán triệt nguyên tắc bảo mật thông tin tố tụng, tránh để việc thi hành biện pháp này vô tình trở thành hình thức công khai hóa tình trạng bị điều tra, truy tố, xét xử của một công dân chưa bị kết tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật.
Thứ tư, đối với đề xuất coi giám sát điện tử là biện pháp ngăn chặn độc lập như ý kiến của Công an thành phố H, tác giả kiến nghị cơ quan soạn thảo, dù giữ nguyên định hướng coi đây là biện pháp thay thế tạm giam như hiện tại, cần bổ sung quy định cho phép chuyển đổi linh hoạt giữa giám sát điện tử với các biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam khác theo diễn biến mức độ rủi ro trong quá trình tố tụng, tránh cứng nhắc buộc cơ quan tiến hành tố tụng phải lựa chọn dứt khoát giữa tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú như thực tiễn áp dụng BLTTHS hiện hành đã bộc lộ.
Thứ năm, cần bổ sung một khoản trong Điều 134 Dự thảo hoặc trong văn bản hướng dẫn thi hành, quy định rõ trình tự bảo đảm quyền được biết, được giải trình của bị can, bị cáo hoặc người bào chữa trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định chuyển từ giám sát điện tử sang tạm giam do vi phạm nghĩa vụ cam đoan, nhằm bảo đảm tính khách quan của việc xác định hành vi vi phạm và tránh áp dụng biện pháp nghiêm khắc hơn một cách vội vàng, thiếu căn cứ vững chắc.
Thứ sáu, kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Công an xây dựng quy trình xác minh nhanh điều kiện hạ tầng viễn thông tại nơi cư trú của bị can, bị cáo trước khi ra quyết định áp dụng giám sát điện tử, đồng thời xây dựng quy chế phối hợp trao đổi dữ liệu giám sát điện tử giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và chính quyền cấp xã, bảo đảm thông tin về tình trạng chấp hành nghĩa vụ cam đoan của bị can, bị cáo được cập nhật kịp thời, chính xác đến Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Thứ bảy, cần quy định cơ chế sơ kết, đánh giá tác động sau một khoảng thời gian nhất định kể từ khi Điều 134 dự thảo BLTTHS (sửa đổi) được thông qua và chính thức có hiệu lực thi hành, giao Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an tổng hợp số liệu về tỷ lệ áp dụng, tỷ lệ vi phạm nghĩa vụ cam đoan, chi phí vận hành thực tế tại các địa phương, làm cơ sở điều chỉnh kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành cho phù hợp với điều kiện thực tiễn từng vùng, miền, tránh tình trạng quy định được áp dụng cứng nhắc trong thời gian dài mà không được cập nhật theo diễn biến thực tế.
Thứ tám, kiến nghị bổ sung vào Điều 295 dự thảo BLTTHS (sửa đổi) một thời hạn cụ thể, ví dụ trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, để Chánh án, Phó Chánh án hoặc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa theo thẩm quyền phải hoàn thành việc xem xét lại và ra quyết định về biện pháp ngăn chặn đang áp dụng, áp dụng thống nhất cho cả bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú và giám sát điện tử, nhằm bảo đảm tính liên tục, kịp thời trong công tác quản lý, vận hành thiết bị giám sát điện tử khi hồ sơ vụ án chuyển từ giai đoạn điều tra, truy tố sang giai đoạn xét xử.
Kết luận
Việc bổ sung biện pháp giám sát điện tử vào dự thảo BLTTHS (sửa đổi) là bước phát triển tất yếu, phù hợp với chủ trương hạn chế tạm giam, tăng cường bảo đảm quyền con người và thông lệ lập pháp của nhiều quốc gia đã áp dụng thành công biện pháp này. Quy định tại Điều 134 Dự thảo, với việc trao đồng thời cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thẩm quyền quyết định áp dụng, đã kế thừa hợp lý cơ chế thẩm quyền vốn có đối với các biện pháp thay thế tạm giam hiện hành, đồng thời khắc phục hạn chế về điều kiện nhân thân, tài sản của bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm. Tuy nhiên, để biện pháp này thực sự phát huy hiệu quả khi đi vào áp dụng, đặc biệt tại các Tòa án khu vực, dự thảo và các văn bản hướng dẫn thi hành cần tiếp tục hoàn thiện các vấn đề về cơ chế chuyển tiếp thẩm quyền giữa các giai đoạn tố tụng, giá trị chứng cứ của dữ liệu giám sát điện tử, lộ trình đầu tư hạ tầng phù hợp với điều kiện từng địa bàn, cũng như cơ chế bảo vệ danh dự, quyền riêng tư của người bị buộc tội, qua đó bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và mục tiêu nhân văn của cải cách tư pháp.
Là một biện pháp hoàn toàn mới trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam, giám sát điện tử tất yếu sẽ tiếp tục được thảo luận, điều chỉnh trong quá trình hoàn thiện dự thảo trước khi trình Quốc hội thông qua. Với vị trí là cơ quan trực tiếp áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử, hệ thống Tòa án nhân dân, đặc biệt là các Tòa án khu vực nơi tiếp xúc trực tiếp với thực tiễn đa dạng của từng địa bàn dân cư, cần chủ động nghiên cứu, tham gia góp ý sâu vào các nội dung kỹ thuật lập pháp còn bỏ ngỏ, góp phần bảo đảm khi Điều 134 dự thảo BLTTHS (sửa đổi) được thông qua và chính thức có hiệu lực thi hành, biện pháp giám sát điện tử sẽ vừa là công cụ hữu hiệu hỗ trợ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, vừa là minh chứng sống động cho quyết tâm bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiến trình cải cách tư pháp của đất nước./.
Tài liệu tham khảo
1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), Tài liệu phục vụ hội nghị khảo sát ý kiến năm 2026.
2. Quốc hội, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025).
3. Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật, Thông báo số 01-TB/BCĐTW ngày 06/7/2026.
4. Hương Nguyên, Nhiều cải cách quan trọng được đề xuất trong sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự, https://nhandan.vn/nhieu-cai-cach-quan-trong-duoc-de-xuat-trong-sua-doi-bo-luat-to-tung-hinh-su-post982114.html.
5. Tuyết Mai, Giám sát điện tử là biện pháp ngăn chặn độc lập thay vì chỉ thay thế tạm giam, https://tuoitre.vn/giam-sat-dien-tu-la-bien-phap-ngan-chan-doc-lap-thay-vi-chi-thay-the-tam-giam-10026090815095627.htm.
6. Quang Phúc, Những điểm mới của dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự, https://tapchitoaan.vn/nhung-diem-moi-cua-du-thao-bo-luat-to-tung-hinh-su16239.html.
7. Võ Văn Thể, Chuẩn bị xét xử sơ thẩm của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, vướng mắc và kiến nghị giải quyết, https://tapchitoaan.vn/chuan-bi-xet-xu-so-tham-cua-bltths-2015-vuong-mac-va-kien-nghi-giai-quyet.
8. Bộ Công an, Tài liệu giới thiệu thiết bị giám sát điện tử trong dự thảo Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi), năm 2025 và năm 2026.
9. Đức Minh, Sớm triển khai ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị can trên toàn quốc, https://tuoitre.vn/plo/som-trien-khai-ghi-am-ghi-hinh-khi-hoi-cung-bi-can-tren-toan-quoc-109697917.htm.
10. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bảng so sánh Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) với Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.
Bài liên quan
-
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG DỰ THẢO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ (SỬA ĐỔI) - MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
Lawyers’ position and role in the Draft Criminal Procedure Code (amended): recommendations for improvement -
Quyền tiếp cận dịch vụ công trực tuyến dưới lăng kính pháp luật về quyền con người: Từ tiếp cận dựa trên dịch vụ đến tiếp cận dựa trên quyền
-
Ngày 20/10/2026, Quốc hội thảo luận về dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)
-
Quy định việc phối hợp trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/7/2026
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
XỬ LÝ VẬT CHỨNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
Handling physical evidence in criminal cases: Issues in improving the Vietnamese criminal procedure law from the perspective of adjudication -
TANDTC đánh giá kết quả rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027-2031
-
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM: NHỮNG BẤT CẬP, VƯỚNG MẮC VÀ ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Shortcomings, difficulties and proposals for amending and supplementing the Vietnamese Penal Code -
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TỐ TỤNG ĐIỆN TỬ TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Improving the legal framework for eletronic procedures in criminal adjudication -
VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TẠI DỰ THẢO BỘ LUẬT HÌNH SỰ (SỬA ĐỔI) THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW NGÀY 30/4/2025 CỦA ĐẢNG
Circumstances excluding criminal responsibility in the Draft Penal Code (amended) in accordance with Resolution No. 66-NQ/TW dated 30 April 2025 of the Party
Bình luận