Bổ sung tội danh mới trong Dự thảo Bộ luật Hình sự: Căn cứ tội phạm hóa và giới hạn can thiệp của Luật Hình sự
The introduction of new offences in the Draft Penal Code: grounds for criminalisation and the limits of intervention of criminal law

(TCTA) - Trên cơ sở lý thuyết về tội phạm hóa, căn cứ tội phạm hóa và giới hạn can thiệp của luật hình sự, bài viết đã đánh giá các quy định liên quan đến bổ sung tội danh mới trong Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Từ những đánh giá tổng quan về lý luận và thực tiễn, đối chiếu với các luật khác trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam và các chuẩn mực quốc tế, bài viết đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tội phạm hóa trong lần chỉnh sửa, bổ sung Bộ luật Hình sự hiện nay.

Đặt vấn đề

Việc sửa đổi Bộ luật Hình sự (BLHS) nhằm tiếp tục thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước trong tình hình mới; khắc phục các vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành, góp phần đắc lực trong việc bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức; thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy hợp tác quốc tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh[1]. Trên cơ sở các nghị quyết, kết luận, chỉ thị quan trọng của Đảng; nền tảng Hiến pháp và các văn bản luật về tư pháp hình sự và luật chuyên ngành có liên quan, cũng như đúc rút thực tiễn gần 10 năm thi hành[2], Dự thảo BLHS (sửa đổi) đã sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến tội phạm và hình phạt; sửa đổi, bổ sung các quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự (TNHS), tạm hoãn truy cứu TNHS, miễn TNHS và thời hiệu truy cứu TNHS … Trong đó, bổ sung tội phạm mới được đánh giá là một trong những nội dung trọng tâm, nhằm đáp ứng được những mục đích và yêu cầu của lần sửa đổi này.

1. Một số vấn đề chung về căn cứ tội phạm hóa và giới hạn can thiệp của luật hình sự

Tội phạm hóa là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong luật hình sự[3]. Nghiên cứu về tội phạm hóa được chia thành hai lĩnh vực lớn: sự kiến tạo xã hội và sự kiến tạo pháp lý của tội phạm. Việc nghiên cứu sự kiến tạo xã hội của tội phạm được phân thành hai lĩnh vực rộng, là tội phạm học và tư pháp hình sự. Trái lại, nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự tập trung vào các quy phạm được thiết lập một cách chính thức, căn cứ vào đó, cá nhân hoặc nhóm người bị xác định là có tội hoặc không có tội hình sự[4].

Tại Việt Nam, tội phạm hóa thường được hiểu là “sự phản ứng tiêu cực của Nhà nước ở mức độ đáng kể đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội mà trước đây chưa bị coi là tội phạm, thông qua việc nhà làm luật quy định hành vi đó là tội phạm trong Bộ luật Hình sự”[5], hoặc ngắn gọn hơn, tội phạm hóa là hoạt động xác định trong luật một hành vi nhất định là tội phạm[6]. Đây là hoạt động của cơ quan lập pháp, bằng cách xác định những hành vi có tính nguy hiểm đáng kể và quy định những hành vi đó là tội phạm trong pháp luật hình sự. Bên cạnh hoạt động xác định và quy định tội phạm ban đầu, tội phạm hóa còn có thể là hoạt động thay đổi, bổ sung sau đó. Căn cứ thay đổi, bổ sung có thể do hành vi này mới phát sinh, hoặc do thực tiễn đòi hỏi cần phải xử lý hành vi này bằng biện pháp TNHS. Tội phạm hóa có thể được tiến hành bởi nhiều cách thức khác nhau, như bổ sung điều luật quy định về tội phạm, hoặc xóa bỏ điều luật, nhằm mở rộng phạm vi tác động của luật, hoặc sửa đổi điều luật để mở rộng phạm vi cấu thành tội phạm[7]. Tuy nhiên, cách thức phổ biến nhất, vẫn là hoạt động bổ sung tội danh mới vào phần các tội phạm trong BLHS, hay còn có thể xem là cấp độ tội phạm hóa tuyệt đối[8].

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau và chưa thống nhất về các căn cứ tội phạm hóa. Trên thế giới, có quan điểm cho rằng, quá trình tội phạm hóa phải “vượt qua” ba bộ lọc, gồm: (i) bộ lọc nguyên tắc (Principle Filter) - nghĩa là, tội phạm hóa phải phù hợp với các nguyên tắc được thừa nhận trong hệ thống pháp luật; (ii) bộ lọc giả định (Presumptions Filter) - theo đó, phải đánh giá liệu có biện pháp nào ít hạn chế quyền hơn so với luật hình sự, nhưng vẫn có khả năng giải quyết vấn đề hay không; và (iii) bộ lọc thực tiễn (Pragmatics Filter) để xem xét những hệ quả của việc tội phạm hóa trên cơ sở tiến hành phân tích chi phí - lợi ích[9]. Hoặc quan điểm khác của tác giả Douglas Husak cho rằng, các yếu tố để đánh giá cần thiết tội phạm hóa hay không, khi hành vi gây ra các thiệt hại đáng kể, hành vi thể hiện sự trái pháp luật, hành vi cần phải buộc phải chịu TNHS và nhà lập pháp phải chứng minh những yêu cầu trên[10].

Tại Việt Nam, tội phạm hóa cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng, tội phạm hóa dựa trên các nhóm căn cứ pháp luật, căn cứ xã hội, căn cứ kinh tế, căn cứ tội phạm học, căn cứ tâm lý học, căn cứ văn hóa - lịch sử và căn cứ hội nhập quốc tế[11]. Hoặc quan điểm khác cho rằng, căn cứ để tội phạm hóa bao gồm 04 căn cứ: mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi; việc cấm những hành vi đó phải phù hợp với quan niệm đạo đức của Nhân dân và loại trừ việc gây ra những hậu quả xã hội tiêu cực tương tự; cần phải được chứng minh về mặt tố tụng hình sự và không được mâu thuẫn với các ngành luật khác và các công ước quốc tế mà Nhà nước đã ký kết hoặc tham gia[12]. Hoặc cũng có quan điểm khác mở rộng nhiều căn cứ hơn, gồm tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi; tính phổ biến của hành vi; sự phù hợp, khả thi của việc xử lý hình sự hành vi bị tội phạm hóa; khả năng phòng, chống hành vi trái pháp luật được phi tội phạm hóa bằng các biện pháp hành chính, dân sự; tính thống nhất của pháp luật; căn cứ xã hội bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; căn cứ hội nhập và hợp tác quốc tế[13].

Từ các phân tích trên, theo quan điểm của tác giả, tổng hợp lại, tội phạm hóa sẽ bao gồm 03 căn cứ sau:

Thứ nhất, tội phạm hóa một hành vi phải bảo đảm tính nguy hiểm và tính phổ biến của hành vi. Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là căn cứ nền tảng, trung tâm nhất cần đánh giá khi thực hiện tội phạm hóa, bởi đây chính là cơ sở quan trọng nhất để phân biệt tội phạm với không phải tội phạm[14]. Về lý luận, yêu cầu của tội phạm hóa dựa trên cơ sở hành vi có gây ra thiệt hại không và mức độ thiệt hại như thế nào[15]. Một hành vi được xem là nguy hiểm cho xã hội, phải bảo đảm mức độ “đáng kể”. Đây cũng là cơ sở để bảo đảm phân hóa giữa tội phạm và vi phạm pháp luật khác hoặc các vi phạm trong lĩnh vực dân sự, kinh tế.

Thực tế cho thấy, mức độ nguy hiểm cho xã hội của một hành vi còn phụ thuộc vào các thông số thuộc về diễn biến, tình hình của hành vi đó trong một khoảng thời gian, không gian nhất định; qua đó, đánh giá tính phổ biến của hành vi. Như vậy, lăng kính thực tiễn chính là căn cứ để xác định tính phổ biến và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi cần được tội phạm hóa. Về mặt phương pháp, mọi quyết định hình sự hóa cần dựa trên dữ liệu, bằng chứng và đánh giá tác động chính sách. Không nên hình sự hóa chỉ vì một vụ việc gây bức xúc, một làn sóng dư luận hoặc một phản ứng tình huống. Lập pháp hình sự theo cảm xúc có thể tạo ra những tội danh quá rộng, hình phạt quá nặng, khó áp dụng và làm gia tăng nguy cơ oan sai hoặc lạm quyền[16]. 

Thứ hai, tội phạm hóa phải bảo đảm tính tương thích trong hệ thống pháp luật hình sự và các luật khác. Nhiệm vụ của BLHS là phải tội phạm hóa các hành vi bị các luật khác xác định có thể bị truy cứu TNHS. Ngoài Hiến pháp là đạo luật gốc, luật khác được hiểu là các luật phòng, chống hoặc luật chuyên ngành. Mặc dù các luật khác có thể quy định các hành vi bị cấm, có thể bị truy cứu TNHS, nhưng đều không được phép xác định các tội danh cũng như khung hình phạt. Vì vậy, các luật phòng, chống, cũng như luật chuyên ngành không có cơ sở pháp lý trực tiếp cho việc xác định tội phạm và hình phạt, mà phải thông qua BLHS[17]. Do đó, để bảo đảm tính tương thích và phù hợp trong hệ thống pháp luật, cơ sở của tội phạm hóa phải bảo đảm yêu cầu phù hợp với quy định của Hiến pháp và các luật khác, đặc biệt là các hành vi bị nghiêm cấm.

Thứ ba, tội phạm hóa phải bảo đảm theo yêu cầu của các điều ước quốc tế. Điều ước quốc tế khi được các chủ thể của luật quốc tế ký kết, phê chuẩn hoặc tham gia, thì tùy thuộc vào nội dung, có thể được áp dụng trực tiếp hoặc gián tiếp[18]. Nội luật hóa là một trong những yêu cầu của các điều ước quốc tế khi quốc gia ký kết và thông qua điều ước quốc tế, trong đó, có nhiều nội dung cần cơ chế bảo đảm của luật hình sự. Do đó, tội phạm hóa được xem là một trong những biểu hiện của nội luật hóa các điều ước quốc tế về hình sự nhằm chống và phòng ngừa tội phạm có tính chất quốc tế như (Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Công ước về Chống tham nhũng,…). Ngoài ra, trong một số điều ước quốc tế còn yêu cầu tội phạm hóa một số hành vi, nhằm bảo đảm các yêu cầu thực hiện các nghĩa vụ liên quan (như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương,…). Như vậy, việc tội phạm hóa bảo đảm yêu cầu của các điều ước quốc tế là yêu cầu bắt buộc, thể hiện nỗ lực của quốc gia thành viên, cũng như là một trong những điều kiện để các tổ chức quốc tế đánh giá mức độ tham gia và hoàn thiện của quốc gia đó.

Một vấn đề cũng rất quan trọng là việc xác định giới hạn của tội phạm hóa. Theo đó, tội phạm hóa là xác định đúng hành vi cần xử lý hình sự, đúng khách thể cần bảo vệ, đúng chủ thể phải chịu trách nhiệm, đúng mức độ nguy hiểm cho xã hội, đúng hình thức lỗi, đúng chế tài và đúng giới hạn can thiệp của Nhà nước. Về mặt triết lý, pháp luật hình sự phải được sử dụng như biện pháp cuối cùng, theo đó, tội phạm hóa chỉ chính đáng khi hành vi gây nguy hại đáng kể cho xã hội và các công cụ pháp lý khác như dân sự, hành chính, kinh tế, kỷ luật, đạo đức nghề nghiệp, quản trị rủi ro hoặc giáo dục xã hội không đủ khả năng điều chỉnh hiệu quả[19].

       2. Bổ sung các tội danh mới trong Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) - một trong những biểu hiện của tội phạm hóa

Việc bổ sung 09 tội danh mới được xem là một trong số những biểu hiện rõ nét của tội phạm hóa trong Dự thảo BLHS (sửa đổi). 09 tội danh được bổ sung bao gồm: tội vi phạm quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều 181); tội vi phạm quy định về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa (Điều 190); tội tổ chức khai thác thủy sản trái phép (Điều 228); tội can thiệp trái phép chức năng vận hành của hệ thống thông tin hoặc phương tiện điện tử (Điều 275); tội xâm phạm dữ liệu cá nhân (Điều 280); tội cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân (Điều 281); tội phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (Điều 290); tội tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (Điều 291); tội thành lập, tham gia nhóm tội phạm có tổ chức (Điều 310).

Việc bổ sung các tội danh mới trong Dự thảo BLHS (sửa đổi) có thể được lý giải như tác giả đã phân tích trên, với 03 căn cứ chủ yếu: tính nguy hiểm và tính phổ biến trong xã hội của hành vi; tính tương thích với pháp luật chuyên ngành và yêu cầu hoàn thiện pháp luật; tính phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Ba căn cứ này phản ánh lần lượt cơ sở thực tiễn, cơ sở pháp lý trong nước và cơ sở pháp lý quốc tế của việc tội phạm hóa. Trên tinh thần của Bản thuyết minh ngày 30/7/2026 liên quan đến lý do tội phạm hóa các hành vi trên cũng như có thể đánh giá mức độ phù hợp với pháp luật hình sự với 03 căn cứ của tội phạm hóa 09 tội danh mới như sau:

 Căn cứ thứ nhất, về tính nguy hiểm và tính phổ biến trong xã hội của hành vi

Các hành vi được đề xuất tội phạm hóa trong Dự thảo BLHS (sửa đổi) đều xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm những quan hệ xã hội quan trọng, có khả năng gây thiệt hại đáng kể cho cá nhân, tổ chức, Nhà nước hoặc trật tự, an toàn xã hội, đồng thời, các hành vi này đều có tính phổ biến và phù hợp với yêu cầu mà thực tiễn đặt ra.

Trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các hành vi cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ hoặc không chính xác; che giấu thông tin; đánh tráo sản phẩm; ép buộc người tiêu dùng mua hàng, hoặc lợi dụng tình trạng dễ bị tổn thương của người tiêu dùng, có thể gây thiệt hại cho số lượng lớn người dân. Các hành vi này phần lớn được thực hiện dưới danh nghĩa doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, thông qua hoạt động kinh doanh và cung cấp dịch vụ, nên có khả năng tác động trên phạm vi rộng. Đặc biệt, trong môi trường thương mại điện tử, thông tin sai lệch có thể được phổ biến nhanh chóng và ảnh hưởng đến quyết định giao dịch của nhiều người tiêu dùng.

Đối với dữ liệu cá nhân, hành vi thu thập, xử lý, mua bán, trao đổi, công khai hóa hoặc sử dụng trái pháp luật đang diễn ra phổ biến, công khai trên không gian mạng. Tại Việt Nam, trong 06 tháng đầu năm 2025, số lượng tài khoản bị rò rỉ gần 8,5 triệu tài khoản, chiếm 1,7% tổng số toàn cầu[20]. Đến 06 tháng đầu năm 2026, hơn 16,5 triệu bản ghi tài khoản bị lộ lọt trong giai đoạn này - cao gấp đôi so với cùng kỳ 06 tháng đầu năm 2025.. Hoạt động rao bán dữ liệu trên không gian mạng trong 06 tháng đầu năm 2026 tiếp tục tăng lên, với 302 vụ được ghi nhận, trải rộng trên nhiều ngành nghề, lĩnh vực, tổng cộng hơn 978,7 triệu bản ghi và gần 6,8TB (Terabyte) dữ liệu bị đưa lên các diễn đàn và chợ đen[21]. Tính nguy hiểm của những hành vi này được thể hiện, không chỉ xâm phạm quyền đối với dữ liệu cá nhân, mà còn trở thành nguồn phát sinh của nhiều loại tội phạm, như lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mở tài khoản ngân hàng, ví điện tử hoặc tài khoản chứng khoán bằng thông tin giả, tổ chức đánh bạc và rửa tiền. Vi phạm trong lĩnh vực dữ liệu cá nhân, còn được thực hiện thông qua doanh nghiệp, tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ, viễn thông, thương mại điện tử, quảng cáo và trung gian dữ liệu. Việc phân biệt dữ liệu cá nhân cơ bản, với dữ liệu cá nhân nhạy cảm trong Dự thảo phản ánh mức độ nguy hiểm cao hơn của hành vi xâm phạm dữ liệu nhạy cảm.

Trong lĩnh vực tài sản mã hóa, các hành vi chào bán, phát hành hoặc cung cấp dịch vụ trái phép; sử dụng thông tin nội bộ; thao túng thị trường; tổ chức giao dịch hoặc làm trung gian sử dụng tài sản mã hóa để thực hiện hành vi trái pháp luật, có thể gây thiệt hại lớn cho nhà đầu tư và ảnh hưởng đến tính minh bạch, ổn định của thị trường. Theo bản thuyết minh, trong giai đoạn 2020-2025, đã ghi nhận hơn 24.000 vụ lừa đảo trực tuyến với thiệt hại gần 40.000 tỷ đồng, trong đó, tài sản mã hóa có thể được sử dụng để chuyển đổi hoặc tẩu tán dòng tiền. Đặc tính phi tập trung, khả năng lưu trữ trên ví lạnh, tốc độ chuyển giao nhanh và tính ẩn danh tương đối, còn tạo điều kiện che giấu tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế và các hoạt động phạm tội khác.

Đối với hành vi can thiệp trái phép chức năng vận hành của hệ thống thông tin hoặc phương tiện điện tử, có thể làm hư hỏng, sai lệch, che giấu hoặc mất dữ liệu, đồng thời, gây rối loạn, gián đoạn, ngưng trệ hoặc tê liệt hoạt động của cơ quan, tổ chức. Mức độ nguy hiểm đặc biệt cao, khi hành vi xâm phạm hệ thống thông tin cấp độ 4 trở lên, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, hoặc hệ thống xử lý thông tin bí mật nhà nước. Thực tiễn tấn công mạng cho thấy, các phương thức xâm phạm ngày càng đa dạng, không chỉ dừng lại ở việc xóa dữ liệu, mà còn bao gồm thay đổi cấu hình, phần mềm, chức năng hoặc trạng thái hoạt động của hệ thống.

Hành vi tổ chức khai thác thủy sản trái phép xâm hại nguồn lợi thủy sản, môi trường biển, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, đồng thời ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của ngư dân, doanh nghiệp thủy sản và hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, tội phạm hóa hành vi này là phù hợp với yêu cầu bảo vệ nguồn lợi thủy sản; phù hợp với định hướng khai thác hải sản tại Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045: “Tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác tại các vùng biển xa bờ...”.

Đối với các tội liên quan đến các hành vi phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, hoặc thành lập, hoặc tham gia nhóm tội phạm có tổ chức tính chất và mức độ nguy hiểm đặc biệt cao do có khả năng đe dọa an ninh quốc gia, an toàn công cộng hoặc tạo điều kiện cho việc thực hiện các tội phạm nghiêm trọng một cách có tổ chức, lâu dài hoặc xuyên quốc gia…

Như vậy, thực trạng, xu hướng các hành vi nguy hiểm trên ngày càng tăng; phương thức thực hiện và hậu quả của các hành vi là những căn cứ thực tế để đánh giá tính nguy hiểm và tính phổ biến trong xã hội. Tuy nhiên, tính phổ biến không đương nhiên dẫn đến tội phạm hóa. Chỉ những hành vi có mức độ nguy hiểm đáng kể, mà các biện pháp pháp lý khác không đủ khả năng xử lý, mới cần đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật hình sự. Vì vậy, Dự thảo sử dụng các dấu hiệu như: khoản thu lợi bất chính, mức thiệt hại, số lượng chủ thể dữ liệu bị xâm phạm, giá trị thủy sản khai thác được, thời gian hệ thống bị đình trệ, hoặc điều kiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm để giới hạn phạm vi TNHS và là cơ sở để đánh giá mức độ nguy hiểm khi tội phạm hóa các hành vi trên.

Căn cứ thứ hai, tính tương thích với pháp luật chuyên ngành và các luật phòng, chống.

Việc bổ sung các tội danh mới, nhằm tạo cơ chế bảo đảm bằng pháp luật hình sự đối với những quyền, nghĩa vụ và hành vi bị nghiêm cấm đã được quy định trong pháp luật chuyên ngành như Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, Luật An ninh mạng năm 2025, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025… Luật khác xác định phạm vi quản lý, điều kiện hoạt động, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể; còn pháp luật hình sự xử lý những vi phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cao. Do đó, tội phạm hóa không thay thế các biện pháp dân sự, hành chính hoặc quản lý chuyên ngành, mà chủ yếu là bổ sung công cụ xử lý đối với những trường hợp vi phạm nghiêm trọng.

Đầu tiên, tội vi phạm quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được xây dựng trên cơ sở các hành vi bị cấm tại khoản 1 Điều 10 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023. Theo lý giải của Ban soạn thảo khi đề xuất tội phạm hóa hành vi này, thực tiễn áp dụng tội lừa dối khách hàng cho thấy, dấu hiệu “dùng thủ đoạn gian dối khác” có thể được áp dụng tùy nghi, trong khi nghĩa gốc của hành vi lừa dối khách hàng chủ yếu gắn với gian dối trong cân, đong, đo, đếm hoặc tính gian giá trị hàng hóa. Quy định hiện hành chưa phản ánh đầy đủ các hành vi cung cấp thông tin sai lệch về chất lượng, công dụng, nguồn gốc, giá và điều kiện giao dịch; đánh tráo sản phẩm; ép buộc người tiêu dùng mua hàng hoặc lợi dụng tình trạng dễ bị tổn thương của người tiêu dùng. Do đó, theo quan điểm của Ban soạn thảo, việc xây dựng một tội danh riêng, giúp khắc phục hạn chế này, đồng thời, tạo cơ sở phân định với các tội sản xuất, buôn bán hàng giả và các tội chiếm đoạt tài sản. Ban soạn thảo cũng đã lựa chọn 03 nhóm hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội, đã xảy ra trong thực tiễn, để cụ thể hóa thành các hành vi phạm tội cụ thể, hướng tới bảo vệ những người tiêu dùng được quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.

Đối với các tội xâm phạm dữ liệu cá nhân và cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân có cơ sở từ Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, đặc biệt là các quy định về hành vi bị nghiêm cấm và nghĩa vụ áp dụng biện pháp bảo vệ dữ liệu. BLHS hiện hành chưa có tội danh chuyên biệt để xử lý đầy đủ hành vi mua bán, làm lộ, làm mất hoặc sử dụng trái pháp luật dữ liệu cá nhân, cũng như hành vi che giấu sự cố, cung cấp thông tin sai lệch, hoặc thiết lập rào cản kỹ thuật, nhằm vô hiệu hóa biện pháp bảo vệ dữ liệu. Việc quy định TNHS của pháp nhân thương mại, cũng phù hợp với thực tế là nhiều vi phạm được thực hiện thông qua doanh nghiệp, tổ chức.

Tội can thiệp trái phép chức năng vận hành của hệ thống thông tin hoặc phương tiện điện tử, được tội phạm hóa trên cơ sở thống nhất với Luật An ninh mạng và các quy định về phân loại, bảo vệ hệ thống thông tin theo cấp độ. Việc sửa đổi tên tội danh và cụ thể hóa các hành vi đưa vào, truyền tải, phá hoại, xóa, làm hư hỏng hoặc làm nghẽn dữ liệu, nhằm khắc phục hạn chế của quy định hiện hành, vốn chủ yếu nhấn mạnh hành vi cản trở hoặc gây rối loạn, chưa phản ánh đầy đủ hành vi làm thay đổi cấu hình, phần mềm, dữ liệu, chức năng hoặc trạng thái vận hành của hệ thống.

Đối với lĩnh vực thủy sản, pháp luật chuyên ngành đã xác định khai thác thủy sản bất hợp pháp là hành vi bị nghiêm cấm, nhưng BLHS hiện hành mới chủ yếu xử lý các hành vi hủy hoại nguồn lợi thủy sản. Việc bổ sung tội tổ chức khai thác thủy sản trái phép, nhằm xử lý trường hợp tổ chức khai thác tại vùng biển thuộc quyền quản lý của quốc gia, vùng lãnh thổ khác, hoặc tổ chức quản lý nghề cá khu vực mà các tội danh hiện hành chưa bao quát đầy đủ.

Tội vi phạm quy định về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa phải được xây dựng trên cơ sở khung pháp luật chuyên ngành về chào bán, phát hành, cung cấp dịch vụ và tổ chức giao dịch tài sản mã hóa, đặc biệt trên cơ sở của Luật Công nghiệp công nghệ số, Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 09/9/2025 của Chính phủ về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam. Đồng thời, với việc ban hành Nghị định số 284/2026/NĐ-CP ngày 16/7/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa, tội phạm hóa hành vi vi phạm quy định về tài sản mã hóa và thị trường mã hoá nhằm siết chặt kỷ cương khi bắt đầu triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa, đồng thời có sự phân hóa giữa TNHS và trách nhiệm hành chính.

Căn cứ thứ ba, tính phù hợp với các yêu cầu của các điều ước quốc tế.

Việc bổ sung một số tội danh, còn nhằm thực hiện nghĩa vụ quốc tế, hoặc bảo đảm sự tương thích của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế về phòng, chống tội phạm. Nội dung này cũng được thể hiện rõ, khi Ban soạn thảo BLHS đề xuất tội phạm hóa các tội phạm trong Dự thảo hiện nay.

Đối với tội can thiệp trái phép chức năng vận hành của hệ thống thông tin hoặc phương tiện điện tử, mối liên hệ trực tiếp được thể hiện tại Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội). Điều 9 Công ước yêu cầu hình sự hóa hành vi cố ý và trái phép làm hư hỏng, xóa, làm suy giảm, thay đổi hoặc ngăn chặn dữ liệu điện tử. Điều 10 yêu cầu hình sự hóa hành vi cố ý và trái phép cản trở nghiêm trọng hoạt động của hệ thống công nghệ thông tin và truyền thông bằng việc tác động đến dữ liệu điện tử. Các yêu cầu này tương ứng khá rõ với Điều 275 Dự thảo BLHS (sửa đổi) về hành vi đưa vào, truyền tải, phá hoại, xóa, làm hư hỏng hoặc làm nghẽn dữ liệu, qua đó, làm rối loạn, gián đoạn, ngưng trệ hoặc tê liệt chức năng vận hành của hệ thống. Công ước Hà Nội cũng ghi nhận tầm quan trọng của việc bảo vệ dữ liệu cá nhân và yêu cầu dữ liệu được chuyển giao trong hợp tác quốc tế phải chịu các biện pháp bảo đảm hữu hiệu, thích hợp. Vì vậy, việc bổ sung các tội phạm về dữ liệu cá nhân, góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong nước để bảo vệ dữ liệu trong hợp tác quốc tế và chia sẻ chứng cứ điện tử.

Đối với tội thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm có tổ chức, căn cứ quốc tế chủ yếu là Điều 5 Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Công ước không quy định một tội danh mang tên “thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm có tổ chức” và cũng không định nghĩa trực tiếp hai hành vi này. Thay vào đó, Điều 5 yêu cầu hình sự hóa hành vi thỏa thuận với người khác để thực hiện tội phạm nghiêm trọng, nhằm đạt lợi ích tài chính, hoặc lợi ích vật chất khác; hành vi tham gia tích cực vào hoạt động phạm tội, hoặc hoạt động hỗ trợ của nhóm, khi biết mục đích phạm tội của nhóm; và hành vi tổ chức, chỉ đạo, hỗ trợ, xúi giục, tạo điều kiện hoặc tư vấn cho việc thực hiện tội phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức. Điều 310 Dự thảo BLHS (sửa đổi) có thể được xem là phương thức chuyển hóa các nghĩa vụ trên thành hành vi thành lập hoặc cố ý tham gia nhóm tội phạm có tổ chức.

Đối với tội vi phạm quy định về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa, căn cứ quốc tế chủ yếu là Khuyến nghị số 15 và Phần giải thích Khuyến nghị số 15 của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF - Financial Action Task Force). FATF yêu cầu các quốc gia đánh giá và giảm thiểu rủi ro rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt liên quan đến tài sản ảo; đặt nhà cung cấp dịch vụ tài sản ảo dưới cơ chế cấp phép hoặc đăng ký, quản lý và giám sát; đồng thời, áp dụng các nghĩa vụ về nhận biết khách hàng, lưu giữ hồ sơ, báo cáo giao dịch đáng ngờ và minh bạch thông tin chuyển giao tài sản. Việc xử lý hành vi cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa trái phép hoặc tổ chức, thực hiện, làm trung gian cho giao dịch tài sản mã hóa để thực hiện hành vi trái pháp luật phù hợp với định hướng quản lý của FATF.

Ngoài ra, việc bổ sung tội tổ chức khai thác thủy sản trái phép góp phần đáp ứng yêu cầu phòng, chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định; thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản và tôn trọng quyền quản lý nghề cá của quốc gia, vùng lãnh thổ khác và các tổ chức quản lý nghề cá khu vực. Việc bổ sung các tội phổ biến và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, cũng phù hợp với hệ thống chuẩn mực quốc tế về ngăn chặn phổ biến và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, như: Công ước vũ khí sinh học, Công ước vũ khí hóa học, Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân[22].

       3. Một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tội phạm hóa bằng hình thức bổ sung tội danh mới trong Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)

Việc bổ sung 09 tội danh mới trong Dự thảo BLHS (sửa đổi) đã thể hiện sự cố gắng của Ban soạn thảo BLHS, nhằm đáp ứng các yêu cầu cả về lý luận, pháp lý và thực tiễn đặt ra. Tuy nhiên, việc tội phạm hóa hiện nay, vẫn chưa hoàn toàn phù hợp với  cơ sở của tội phạm hóa và giới hạn của luật hình sự, cụ thể:

Một là, cần làm rõ căn cứ tính nguy hiểm và tính phổ biến trong xã hội của hành vi. Đây cũng là nội dung được nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có ý kiến với Ban soạn thảo khi lấy ý kiến về Dự thảo BLHS (sửa đổi), theo đó, đề nghị đánh giá kỹ mức độ nguy hiểm của từng hành vi trước khi hình sự hóa; làm rõ ranh giới giữa TNHS với trách nhiệm dân sự, hành chính; tránh chồng lấn với các tội danh hiện hành và tránh hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự, hành chính[23]. Ví dụ: tội vi phạm quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện đang chồng chéo với các tội về lừa đảo, lừa dối khách hàng, quảng cáo gian dối, sản xuất, buôn bán hàng giả[24] (như hành vi “cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, không chính xác…” hoặc “đánh tráo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ…”). Bởi, về bản chất, đây vẫn là hành vi dùng thủ đoạn gian dối, tương tự với tội lừa dối khách hàng, nên tính phân hóa của tội phạm chưa được thể hiện rõ. Hoặc dấu hiệu định lượng thiệt hại tại Điều 280 Dự thảo quy định về tội xâm phạm dữ liệu cá nhân chưa bao quát được hết tính chất nguy hiểm của hành vi, bởi nhiều hành vi xâm phạm dữ liệu ở giai đoạn tìm hiểu, hoặc tạo ra lỗ hổng và khai thác lỗ hổng bảo mật trong dữ liệu[25], mặc dù chưa gây ra trực tiếp các hậu quả thiệt hại có thể định lượng được liệt kê trong Dự thảo luật, nhưng hoàn toàn có thể dẫn đến các rủi ro dây chuyền. Do đó, Ban soạn thảo cần rà soát và đánh giá cụ thể hơn về tính nguy hiểm, đặc biệt về tính phổ biến trong xã hội của hành vi thông qua các số liệu thực tiễn, để tăng thêm tính thuyết phục trong việc tội phạm hóa các hành vi phạm tội.

Hai là, cần rà soát tối đa các văn bản luật chuyên ngành và các luật phòng, chống trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nhằm bảo đảm tính phù hợp và tương thích. Ví dụ Điều 281 quy định về tội cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân, trong Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân hay Nghị định số 356/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân không đưa ra giải thích thuật ngữ “cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân”; những hành vi như cung cấp thông tin sai lệch về sự cố dữ liệu cá nhân, hay thiết lập rào cản kỹ thuật trái phép, cũng không được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật này. Đồng thời, các thuật ngữ như “tài sản mã hóa”, “cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa trái phép”, “thông tin nội bộ” và “thao túng thị trường” cần được định nghĩa, hoặc dẫn chiếu rõ ràng. Bên cạnh đó, nhà làm luật cần lưu ý tính tương thích với pháp luật chuyên ngành không chỉ đòi hỏi sự thống nhất về thuật ngữ, hành vi, chủ thể và ngưỡng xử lý, mà còn phải chứng minh được khoảng trống của pháp luật hình sự hiện hành. Việc bổ sung tội danh mới chỉ hợp lý khi các quy định hiện có chưa bao quát hành vi, việc áp dụng tội danh có thể dẫn đến tùy nghi, hoặc các chế tài không đủ khả năng xử lý những vi phạm nghiêm trọng.

Ba là, cần nghiên cứu, rà soát, đánh giá tính tương thích, mức độ đáp ứng của Dự thảo BLHS (sửa đổi) với pháp luật quốc tế, các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong đó, tập trung vào một số các khuyến nghị quốc tế mà Việt Nam đã và đang bị cho là chưa đáp ứng và đang bị các quốc gia, tổ chức áp dụng các biện pháp gây bất lợi đối với Việt Nam, như: Các khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) và Nhóm châu Á- Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG). Cụ thể như Khuyến nghị số 06 trong 17 Khuyến nghị của FATF khi đưa Việt Nam vào “danh sách Xám” liên quan trực tiếp đến tài sản ảo (Virtual Assets - VAs) và các tổ chức cung ứng dịch vụ tài sản ảo (Virtual Asset Service Providers - VASPs) – việc chỉ tội phạm hóa vi phạm quy định về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa còn khá chung chung, chưa đáp ứng được yêu cầu của các khuyến nghị này. Bên cạnh đó, Yêu cầu của Ủy ban châu Âu về chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU); Hiệp định hợp tác khu vực về chống cướp biển và cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền tại châu Á; Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương,… cũng cần được rà soát và đánh giá làm cơ sở cho hoạt động tội phạm hóa.

Kết luận

Tội phạm hóa là hoạt động quan trọng trong quá trình hoàn thiện chính sách hình sự, đòi hỏi phải dựa trên những căn cứ khoa học, thực tiễn và bảo đảm giới hạn can thiệp cần thiết của luật hình sự. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn, bài viết đã đánh giá việc bổ sung các tội danh mới trong Dự thảo BLHS (sửa đổi), đồng thời, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp, nhằm bảo đảm hoạt động tội phạm hóa được thực hiện có căn cứ, phù hợp với yêu cầu phòng, chống tội phạm, đồng thời, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật cũng như quyền con người, quyền công dân.

LÊ THỊ DIỄM HẰNG - Tiến sĩ, Trưởng Bộ môn Luật Hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

[1] Chính phủ, Tờ trình tóm tắt dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Hà Nội, ngày 09/8/2026.

[2] Chính phủ, tlđd(1).

[3] Asaf Harduf, How Crimes Should Be Created: A Practical Theory of Criminalization, Criminal Law Bulletin, Vol. 49, No. 1, 2013, tr.31.

[4] Alison Liebling, Shadd Maruna và Lesley McAra (chủ biên), The Oxford Handbook of Criminology, Oxford University Press, 2017, tr.54.

[5] Vũ Đình Hoàng, Tội phạm hóa và phi tội phạm hóa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2024, tr.45.

[6] Viện Khoa học pháp lý, Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa và Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr.789.

[7] Vũ Đình Hoàng, tlđd(5), tr.66-67.

[8] Vũ Đình Hoàng, tlđd(5), tr.71.

[9] Jonathan Schonsheck, On Criminalization, Springer Dordrecht, 1994, tr.64-70.

[10] Douglas Husak, Overcriminalization: The Limits of the Criminal Law, Oxford University Press, 2008, tr.69-100.

[11] Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Phần chung (Giáo trình sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019, tr.47-50.

[12] Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh (Đồng chủ biên), Những vấn đề lý luận của việc đổi mới pháp luật hình sự trong giai đoạn hiện nay, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 48-49.

[13] Vũ Đình Hoàng, tlđd(5), tr.73-80.

[14] Vũ Đình Hoàng, tlđd(5), tr.73.

[15] Asaf Harduf, tlđd(3), tr.40.

[16] Võ Khánh Vinh, Trần Hữu Tráng, Đổi mới tư duy hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong kỷ nguyên mới (phần 1),https://phaply.net.vn/doi-moi-tu-duy-hoan-thien-phap-luat-hinh-su-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi-phan-1-a262060.html, truy cập ngày 19/9/2026.

[17] Nguyễn Ngọc Hòa, Bộ luật Hình sự năm 2015 với việc đáp ứng yêu cầu tội phạm hóa của các luật khác, Tạp chí Luật học, Số đặc biệt về Bộ luật Hình sự năm 2015, tr.36-37.

[18] Tạ Quang Ngọc, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004, tr.17.

[19] Võ Khánh Vinh, Trần Hữu Tráng, tlđd(16), truy cập ngày 19/9/2026.

[20] Viettel Threat Intelligence, Báo cáo tình hình nguy cơ an toàn thông tin tại Việt Nam, 2025, tr.30.

[21] Viettel Threat Intelligence, Báo cáo tình hình nguy cơ an toàn thông tin tại Việt Nam, 2026, tr.14.

[22] Bộ Quốc phòng, Tờ trình đề nghị xây dựng Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, 2025, tr.3.

[23] Chính phủ, Báo cáo việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), ngày 12/9/2026, tr.21.

[24] Chính phủ, tlđd(23), tr.27.

[25] Maria Grazia Porcedda & David S.Wall, Modelling the Cybercrime Cascade Effect in Data Crime, https://www.tara.tcd.ie/tara8/server/api/core/bitstreams/7a49e809-6ee1-4b87-acbd-6be0fb7a7ee5/content, truy cập ngày 26/9/2026 - Hiệu ứng xếp tầng của các tội phạm liên quan tội phạm mạng (bao gồm cả tội phạm dữ liệu) gồm 06 giai đoạn để liên kết đến điểm bùng phát - dẫn đến hậu quả trực tiếp của tội phạm.

Tài liệu tham khảo

1. Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) ngày 09/10/2026.

2. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

3. Asaf Harduf, How Crimes Should Be Created: A Practical Theory of Criminalization, Criminal Law Bulletin, Vol. 49, No. 1, 2013.

4. Alison Liebling, Shadd Maruna và Lesley McAra (chủ biên), The Oxford Handbook of Criminology, Oxford University Press, 2017.

5. Bộ Quốc phòng, Tờ trình đề nghị xây dựng Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, 2025.

6. Chính phủ, Báo cáo việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), ngày 12/9/2026.

7. Chính phủ, Tờ trình tóm tắt dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Hà Nội, ngày 09/8/2026.

8. Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Phần chung (Giáo trình sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019.

9. Douglas Husak, Overcriminalization: The Limits of the Criminal Law, Oxford University Press, 2008.

10. Nguyễn Ngọc Hòa, Bộ luật Hình sự năm 2015 với việc đáp ứng yêu cầu tội phạm hóa của các luật khác, Tạp chí Luật học, Số đặc biệt về Bộ luật Hình sự năm 2015, 2016.

11. Vũ Đình Hoàng, Tội phạm hóa và phi tội phạm hóa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay,Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2024.

12. Jonathan Schonsheck, On Criminalization, Springer Dordrecht, 1994.

13. Tạ Quang Ngọc, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004.

14. Maria Grazia Porcedda & David S.Wall, Modelling the Cybercrime Cascade Effect in Data Crime, https://www.tara.tcd.ie/tara8/server/api/core/bitstreams/7a49e809-6ee1-4b87-acbd-6be0fb7a7ee5/content, truy cập ngày 26/9/2026

15. Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh (Đồng chủ biên), Những vấn đề lý luận của việc đổi mới pháp luật hình sự trong giai đoạn hiện nay, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1994.

16. Võ Khánh Vinh, Trần Hữu Tráng, Đổi mới tư duy hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong kỷ nguyên mới (phần 1), https://phaply.net.vn/doi-moi-tu-duy-hoan-thien-phap-luat-hinh-su-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi-phan-1-a262060.html, truy cập ngày 19/9/2026.

17. Viện Khoa học pháp lý, Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa và Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006.

18. Viettel Threat Intelligence, Báo cáo tình hình nguy cơ an toàn thông tin tại Việt Nam, 2025.