Có đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do sự việc đã được giải quyết bằng bản án hành chính đã có hiệu lực không?
Hiện nay, đối với việc đình chỉ giải quyết vụ án vì “sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” trên thực tiễn giải quyết, xét xử vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau; việc xác định “sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” rất quan trọng vì điều này ảnh hưởng đến việc có giải quyết hoặc tiếp tục giải quyết vụ án hay không.
Tóm tắt nội dung vụ án:
Ngày 13/3/2019, bà Trần Thị T có đơn khởi kiện Ủy ban nhân dân huyện V để yêu cầu TAND tỉnh K hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 479922, số vào sổ cấp GCN CH 12595 cấp ngày 17/5/2018 đối với thửa đất số 42, tờ bản đồ số 36 - Bản đồ địa chính VN-2000 (là các thửa đất số 339, 340, 341, 342, 343, 344, 345, 350, 351, 346, 347, tờ bản đồ số 30 - Bản đồ địa chính năm 1996) do Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho ông Nguyễn B, bà Trần Thị T1; tại Bản án số 12/2019/HC-ST ngày 09/9/2019, TAND tỉnh K đã nhận định thửa đất số 42, tờ bản đồ số 36 - Bản đồ địa chính VN-2000 (là các thửa đất số 339, 340, 341, 342, 343, 344, 345, 350, 351, 346, 347, tờ bản đồ số 30 - Bản đồ địa chính năm 1996) do Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho ông Nguyễn B, bà Trần Thị T1 là đúng theo nguồn gốc, việc cấp giấy chứng nhận đúng theo trình tự thủ tục pháp luật quy định và tuyên xử: Bác đơn khởi kiện của bà Trần Thị T. Ngày 17/9/2022, bà Trần Thị T kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án hành chính số 12/2019/HC-ST ngày 09/9/2019 của TAND tỉnh K; tại bản án số 218/2021/HC-PT ngày 27/10/2021, TAND cấp cao Đ đã tuyên xử bác kháng cáo của bà Trần Thị T, giữ nguyên Bản án hành chính số 12/2019/HC-ST ngày 09/9/2019 của TAND tỉnh K. Bà T không có đơn đề nghị giám đốc thẩm nên Bản án số 218/2021/HC-PT ngày 27/10/2021 của TAND cấp cao Đ có hiệu lực pháp luật.
Ngày 19/11/2021, bà Trần Thị T tiếp tục khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với ông Nguyễn B, bà Trần Thị T1 đối với thửa đất số 42, tờ bản đồ số 36 - Bản đồ địa chính VN-2000 (là các thửa đất số 339, 340, 341, 342, 343, 344, 345, 350, 351, 346, 347, tờ bản đồ số 30 - Bản đồ địa chính năm 1996) mà Ủy ban nhân dân huyện V đã cấp cho ông Nguyễn B, bà Trần Thị T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 479922, số vào sổ cấp GCN CH 12595 cấp ngày 17/5/2018; bà T vẫn cung cấp các tài liệu, chứng cứ như đã khởi kiện hành chính trước đây. TAND huyện V, tỉnh K thụ lý vụ án số 15/2022/TLST-DS ngày 21/01/2022 và xác định quan hệ tranh chấp: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Về việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 15/2022/TLST-DS ngày 21/01/ 2022 này hiện có 02 quan điểm khác nhau, cụ thể:
- Quan điểm thứ nhất: Bản án hành chính sơ thẩm số 12/2019/HC-ST ngày 09/9/2019 của TAND tỉnh K và Bản án hành chính phúc thẩm số 218/2021/HC-PT ngày 27/10/2021 của TAND cấp cao Đ chỉ giải quyết đối với yêu cầu “Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” số CM 479922, số vào sổ cấp GCN CH 12595 cấp ngày 17/5/2018 đối với thửa đất số 42, tờ bản đồ số 36 - Bản đồ địa chính VN-2000 (là các thửa đất số 339, 340, 341, 342, 343, 344, 345, 350, 351, 346, 347, tờ bản đồ số 30 - Bản đồ địa chính năm 1996) do Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho ông Nguyễn B, bà Trần Thị T1 chứ không giải quyết tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với tài sản tranh chấp là thửa đất số 42, tờ bản đồ số 36 - Bản đồ địa chính VN-2000 (là các thửa đất số 339, 340, 341, 342, 343, 344, 345, 350, 351, 346, 347, tờ bản đồ số 30 - Bản đồ địa chính năm 1996). Do đó, TAND huyện V, tỉnh K cần thụ lý, giải quyết và dựa vào kết quả giải quyết của 02 (hai) Bản án hành chính sơ thẩm, phúc thẩm ở trên để tuyên xử theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị T.
- Quan điểm thứ hai cũng là quan điểm của tác giả:
Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự:
“1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:
…;
g) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý;
…”
Và tại điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 quy định:
“1. Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:
c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền…”.
Quay trở lại vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 15/2022/TLST-DS ngày 21/01/2022 giữa nguyên đơn bà Trần Thị T và bị đơn ông Nguyễn B, bà Trần Thị T1; nguyên đơn bà Trần Thị T vẫn tiếp tục khởi kiện tranh chấp dân sự đối với cùng 01 (một) thửa đất số 42, tờ bản đồ số 36 - Bản đồ địa chính VN-2000 (trước đây là các thửa đất số 339, 340, 341, 342, 343, 344, 345, 350, 351, 346, 347, tờ bản đồ số 30 - Bản đồ địa chính năm 1996) mà Ủy ban nhân dân huyện V đã cấp cho ông Nguyễn B, bà Trần Thị T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 479922, số vào sổ cấp GCN CH 12595 cấp ngày 17/5/2018 và đã được TAND tỉnh K xét xử tại Bản án hành chính số 12/2019/HC-ST ngày 09/9/2019, TAND cấp cao Đ xét xử phúc thẩm tại Bản án hành chính số 218/2021/HC-PT ngày 27/10/2021; hai bản án nêu trên đều tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 479922, số vào sổ cấp GCN CH 12595 cấp ngày 17/5/2018 đối với thửa đất số 42, tờ bản đồ số 36 - Bản đồ địa chính VN-2000 (là các thửa đất số 339, 340, 341, 342, 343, 344, 345, 350, 351, 346, 347, tờ bản đồ số 30 - Bản đồ địa chính năm 1996) do Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho ông Nguyễn B, bà Trần Thị T1 với lý do việc cấp giấy là đúng theo nguồn gốc sử dụng đất, đúng theo trình tự thủ tục pháp luật quy định. Sau đó, bà T không có đơn đề nghị giám đốc thẩm, không có kháng nghị giám đốc thẩm nên Bản án số 218/2021/HC-PT ngày 27/10/2021 của TAND cấp cao Đ đã có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, TAND huyện V, tỉnh K cần căn cứ điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 (dẫn chiếu điểm c khoản 1 Điều 192) để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 15/2022/TLST-DS ngày 21/01/2022 giữa nguyên đơn bà Trần Thị T và bị đơn ông Nguyễn B, bà Trần Thị T1 là đúng.
Với vụ việc cụ thể và quan điểm của tác giả, rất mong có thêm nhiều ý kiến của các đồng nghiệp để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.
TAND huyện Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận tổ chức phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất - Ảnh: Diệu Trâm.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TỐ TỤNG ĐIỆN TỬ TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Improving the legal framework for eletronic procedures in criminal adjudication -
Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú không bắt buộc phải mở phiên họp việc dân sự
-
VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TẠI DỰ THẢO BỘ LUẬT HÌNH SỰ (SỬA ĐỔI) THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW NGÀY 30/4/2025 CỦA ĐẢNG
Circumstances excluding criminal responsibility in the Draft Penal Code (amended) in accordance with Resolution No. 66-NQ/TW dated 30 April 2025 of the Party -
PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ VÀ THẨM QUYỀN KHÁC CỦA TÒA ÁN TRONG HỆ THỐNG TÒA ÁN 03 CẤP
Determining the jurisdiction and other competeneces of Courts the three-tier Court system -
GIỚI HẠN XÉT XỬ, TRÁCH NHIỆM CHỨNG MINH VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LIMITS OF TRIAL, BURDEN OF PROOF AND THE COURT’S ROLE IN RELATION TO DOCUMENTS AND
Bình luận