GIỚI HẠN XÉT XỬ, TRÁCH NHIỆM CHỨNG MINH VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LIMITS OF TRIAL, BURDEN OF PROOF AND THE COURT’S ROLE IN RELATION TO DOCUMENTS AND

(TCTA) - Trong bối cảnh Dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) đang được xem xét, tiếp tục hoàn thiện, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng và hiệu quả xét xử. Trên cơ sở đối chiếu pháp luật hiện hành với dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và thực tiễn xét xử, bài viết tập trung phân tích các quy định về giới hạn xét xử, trách nhiệm chứng minh tội phạm và nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án đối với tài liệu, chứng cứ. Trọng tâm là sự điều chỉnh trong phương thức Tòa án thực hiện nhiệm vụ đối với chứng cứ: từ cơ chế trực tiếp xác minh, thu thập khi Viện kiểm sát không bổ sung được sang tăng cường các thẩm quyền yêu cầu thu thập, bổ sung, kiểm tra, xác minh và thẩm định tính xác thực của tài liệu, chứng cứ. Từ đó, bài viết đề xuất một số định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm Tòa án có đầy đủ điều kiện thực hiện chức năng xét xử, xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong mối quan hệ với hoạt động điều tra, truy tố, đồng thời bảo đảm độc lập xét xử, tranh tụng trong xét xử, quyền bào chữa và nguyên tắc suy đoán vô tội. Abstract: In the context of the ongoing revision of the Criminal Procedure Code (amended), further clarification of the functions, duties and powers of criminal procedure authorities is directly relevant to the quality and effectiveness of adjudication. By comparing the current law with the Draft Criminal Procedure Code (amended), the Law on Organisation of the People’s Courts and judicial practice, the article examines provisions on the limits of trial, the burden of proof and the Court’s powers in relation to documents and evidence. Particular attention is paid to the shift from the mechanism under which the Court may directly verify and collect evidence when the Procuracy cannot supplement it, toward a framework that strengthens the Court’s powers to request collection and supplementation of evidence, as well as to examine, verify and assess the authenticity of documents and evidence. The article then proposes directions for further improvement so that the Court has sufficient legal tools to perform its adjudicative function, while clearly defining the Court’s functions and powers in relation to investigation and prosecution, and safeguarding judicial independence, adversarial proceedings, the right to defence and the presumption of innocence.

1. Đặt vấn đề

Trong tố tụng hình sự (TTHS), giới hạn xét xử, trách nhiệm chứng minh và phương thức Tòa án thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đối với tài liệu, chứng cứ là những vấn đề có quan hệ chặt chẽ, tác động trực tiếp đến phạm vi xét xử, việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng và chất lượng của phán quyết. Giới hạn xét xử xác định phạm vi bị cáo, hành vi và nội dung buộc tội được đưa ra xem xét tại phiên tòa; các quy định về chứng minh, chứng cứ xác định trách nhiệm của từng chủ thể trong việc làm rõ những vấn đề phải chứng minh, đồng thời xác lập phạm vi, phương thức Tòa án tiếp nhận, yêu cầu cung cấp, kiểm tra, đánh giá và làm rõ tài liệu, chứng cứ. Việc thiết kế hợp lý các quy định này là điều kiện quan trọng để bảo đảm xét xử độc lập, tranh tụng trong xét xử, quyền bào chữa và nguyên tắc suy đoán vô tội.

Yêu cầu này càng được đặt ra trong bối cảnh tiếp tục cải cách tư pháp và hoàn thiện pháp luật TTHS. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 xác định yêu cầu lấy xét xử làm trung tâm, tranh tụng làm đột phá, bảo đảm độc lập xét xử và tiếp tục làm rõ những trường hợp Tòa án thu thập chứng cứ trong hoạt động xét xử[1]. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân đồng thời xác định Tòa án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp và quy định tương đối cụ thể phương thức Tòa án tiếp nhận, yêu cầu cung cấp, kiểm tra, thẩm định tài liệu, chứng cứ[2]. Đây là những cơ sở quan trọng để tiếp tục rà soát, hoàn thiện nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án đối với chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS).

Thực tiễn thi hành BLTTHS cho thấy việc xác định đúng ranh giới giữa trách nhiệm chứng minh tội phạm, hoạt động điều tra và chức năng xét xử vẫn có ý nghĩa thiết thực. Đặc biệt, cơ chế quy định Tòa án trực tiếp xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ khi Viện kiểm sát không bổ sung được, cần xem xét trong tổng thể chức năng của từng cơ quan tiến hành tố tụng. Vấn đề cốt lõi không phải là thu hẹp vai trò của Tòa án đối với chứng cứ, mà là xác định đúng phương thức Tòa án thực hiện chức năng xét xử: có đầy đủ công cụ để yêu cầu, kiểm tra, đánh giá và làm rõ chứng cứ, nhưng không thay thế Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong việc thu thập, bổ sung chứng cứ làm căn cứ buộc tội. Theo hướng đó, việc sửa đổi Bộ luật cần vừa bảo đảm điều kiện để Tòa án ra phán quyết có căn cứ, đúng pháp luật, vừa xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiến hành tố tụng.

2. Giới hạn xét xử, trách nhiệm chứng minh và nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án đối với tài liệu, chứng cứ

2.1. Giới hạn của việc xét xử

Điều 298 BLTTHS hiện hành quy định Tòa án xét xử bị cáo về những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử. Theo đó, Tòa án có thể xét xử bị cáo ở khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội đã truy tố. Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn, Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn. Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) theo hướng cơ bản kế thừa quy định này[3].

Giới hạn của việc xét xử cần được phân biệt với phạm vi quyết định về hình sự của Hội đồng xét xử. Giới hạn xét xử xác định phạm vi bị cáo, hành vi được đưa ra xét xử và sự ràng buộc của hoạt động xét xử với nội dung truy tố; trên cơ sở kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử độc lập xem xét, quyết định bị cáo có phạm tội hay không, tội danh, điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền[4]. Vì vậy, việc Tòa án độc lập đánh giá tính chất pháp lý của hành vi đã bị truy tố không đồng nghĩa với việc mở rộng phạm vi xét xử sang người hoặc hành vi chưa được truy tố.

Sự phân biệt này đặc biệt có ý nghĩa trong trường hợp nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh, điều, khoản áp dụng khác với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Nếu sự khác biệt xuất phát từ việc đánh giá pháp lý đối với chính hành vi và những tình tiết đã được truy tố, đã được làm rõ bằng chứng cứ thì đây trước hết là vấn đề áp dụng pháp luật. Trường hợp việc xem xét áp dụng tội danh hoặc khung hình phạt khác đòi hỏi phải làm rõ thêm hành vi, hậu quả, mục đích, động cơ hoặc tình tiết có ý nghĩa đối với việc định tội, định khung hình phạt thì đồng thời đặt ra yêu cầu về chứng minh[5]. Đối với người hoặc hành vi chưa thuộc phạm vi truy tố, việc giải quyết phải được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, bảo đảm chức năng buộc tội, quyền bào chữa và giới hạn của việc xét xử.

2.2. Trách nhiệm chứng minh tội phạm và xác định sự thật của vụ án

Điều 15 của BLTTHS hiện hành quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ cả chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự[6]. Quy định này vừa xác định chủ thể chịu trách nhiệm chứng minh, vừa đặt ra yêu cầu về tính khách quan, toàn diện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) tiếp tục kế thừa nguyên tắc trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đồng thời, các quy định về hoạt động điều tra, thực hành quyền công tố và xét xử xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan. Theo đó, Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật; Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, quyết định việc buộc tội; còn Tòa án xét xử và ra bản án, quyết định trên cơ sở kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa[7]. Vì vậy, quy định xác định sự thật của vụ án tại dự thảo BLTTHS (sửa đổi) cần được xem xét trong mối liên hệ thống nhất với các quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án vẫn có trách nhiệm làm rõ sự thật của vụ án thông qua hoạt động xét xử. Điều 108 của Bộ luật hiện hành và Điều 119 Dự thảo đều đặt ra yêu cầu mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá về tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan; Điều 30 Dự thảo đồng thời quy định bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, vấn đề cần làm rõ không phải là Tòa án có trách nhiệm đối với việc xác định sự thật của vụ án hay không, mà là phương thức thực hiện trách nhiệm đó: Tòa án làm rõ các tình tiết của vụ án thông qua xét xử, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và tranh tụng, thay vì trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra nhằm bổ sung chứng cứ cho việc buộc tội[8].

Cách tiếp cận này còn phải được đặt trong mối quan hệ với nguyên tắc suy đoán vô tội. Điều 13 của BLTTHS hiện hành và Điều 14 dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội. Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu này khi quy định, sau khi đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và giải thích, áp dụng pháp luật mà vẫn tồn tại nhiều cách hiểu, áp dụng hợp lý khác nhau đối với những vấn đề làm căn cứ quyết định trách nhiệm hình sự và trách nhiệm pháp lý khác thì phải lựa chọn cách hiểu, áp dụng có lợi hơn cho người bị buộc tội[9]. Các quy định này cho thấy hoạt động chứng minh phải được thực hiện trong giới hạn và theo trình tự, thủ tục luật định; khi căn cứ buộc tội không đủ và không thể tiếp tục làm sáng tỏ bằng các biện pháp hợp pháp, hậu quả tố tụng phải được xác định theo nguyên tắc suy đoán vô tội, thay vì chuyển trách nhiệm chứng minh sang người bị buộc tội hoặc sang Tòa án.

2.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án đối với tài liệu, chứng cứ

Theo Điều 252 của Bộ luật hiện hành, Tòa án có thể tiến hành việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ thông qua việc tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật; xem xét tại chỗ vật chứng, nơi xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản và thực hiện các hoạt động khác theo quy định. Khoản 6 Điều này còn quy định trường hợp Tòa án đã yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng cứ nhưng Viện kiểm sát không bổ sung được thì Tòa án có thể tự tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án. Quy định này đặt ra vấn đề về giới hạn giữa chức năng xét xử của Tòa án với hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, nhất là trong mối quan hệ với Điều 15 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.

So với quy định hiện hành, dự thảo BLTTHS (sửa đổi) có sự điều chỉnh đáng chú ý khi đổi tên điều luật thành “Tòa án kiểm tra, yêu cầu thu thập, bổ sung chứng cứ” và không còn duy trì cơ chế Tòa án tiếp tục tự thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được. Thay vào đó, dự thảo quy định Tòa án có thẩm quyền “kiểm tra, xác minh, thẩm định tính xác thực của tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án”, đồng thời tiếp tục duy trì các quyền tiếp nhận chứng cứ, yêu cầu cung cấp tài liệu, đồ vật, xem xét tại chỗ, trưng cầu giám định và yêu cầu định giá tài sản[10]. Sự thay đổi này cho thấy trọng tâm hoạt động của Tòa án đối với chứng cứ được điều chỉnh theo hướng kiểm tra, làm rõ và đánh giá chứng cứ phục vụ việc xét xử, thay vì tiếp tục trực tiếp thu thập phần chứng cứ mà Viện kiểm sát không bổ sung được[11].

Một điểm cần lưu ý là thẩm quyền ban hành quyết định hoặc yêu cầu của Tòa án không đồng nhất với việc Tòa án trực tiếp thực hiện hoạt động điều tra hoặc hoạt động chuyên môn tương ứng. Tòa án có thể ra quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, nhưng hoạt động giám định do cá nhân, tổ chức giám định thực hiện và việc định giá do Hội đồng định giá tài sản tiến hành.

Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định, khi thuộc trường hợp cần phải điều tra bổ sung, Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung; trường hợp chỉ cần bổ sung tài liệu, chứng cứ mà không phải trả hồ sơ thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung. Nếu Viện kiểm sát không bổ sung được tài liệu, chứng cứ thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án[12]. Quy định này góp phần làm rõ hơn trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng, theo đó việc bổ sung chứng cứ được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật này, trong khi Tòa án tập trung kiểm tra, đánh giá chứng cứ và quyết định vụ án trên cơ sở kết quả xét xử, tranh tụng tại phiên tòa.

3. Vai trò của Tòa án trong việc kiểm tra, đánh giá và yêu cầu thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam

3.1. Xác định sự thật của vụ án thông qua hoạt động xét xử

Hiến pháp xác định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp; Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; đồng thời Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp[13]. Cùng với nguyên tắc suy đoán vô tội, các quy định này là cơ sở để xác định nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiến hành tố tụng phù hợp với chức năng được pháp luật giao. Vì vậy, việc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều được xác định là cơ quan tiến hành tố tụng không đồng nghĩa với việc các cơ quan này có cùng trách nhiệm và phương thức thực hiện hoạt động chứng minh.

Điều 15 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân cụ thể hóa quy định Tòa án thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đối với chứng cứ khi quy định các bên thu thập, cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án theo quy định của pháp luật; Tòa án có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ, tiếp nhận tài liệu, chứng cứ được cung cấp, giao nộp và kiểm tra, thẩm định tính xác thực của tài liệu, chứng cứ. Việc xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc được thực hiện trên cơ sở tài liệu, chứng cứ đã được cung cấp, giao nộp, làm rõ tại phiên tòa, phiên họp và kết quả tranh tụng. Đáng lưu ý, cơ chế Tòa án hỗ trợ thu thập tài liệu, chứng cứ bằng việc yêu cầu cung cấp được quy định trực tiếp đối với vụ án hành chính, vụ việc dân sự và các vụ việc khác, không bao gồm vụ án hình sự. Do đó, trong tố tụng hình sự, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án đối với việc yêu cầu cung cấp, thu thập và kiểm tra chứng cứ phải được xác định theo các quy định tương ứng của BLTTHS.

Trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm bản án, quyết định có căn cứ và đúng pháp luật không đồng nghĩa với trách nhiệm trực tiếp thu thập, bổ sung chứng cứ để chứng minh sự buộc tội. Dự thảo BLTTHS (sửa đổi), trong đó Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, quyết định việc buộc tội; Kiểm sát viên tại phiên tòa trình bày luận tội, đưa ra chứng cứ, tài liệu, lập luận và đối đáp; Hội đồng xét xử kiểm tra, đánh giá chứng cứ và quyết định vụ án trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa[14]. Việc Tòa án làm rõ sự thật của vụ án được thực hiện thông qua hoạt động xét xử, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và tranh tụng tại phiên tòa.

Việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn như trên có ý nghĩa trực tiếp đối với việc bảo đảm sự vô tư, khách quan của Hội đồng xét xử và nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. Nếu Thẩm phán đồng thời trực tiếp thực hiện những hoạt động thuộc thẩm quyền điều tra nhằm tìm kiếm, bổ sung chứng cứ buộc tội, rồi tiếp tục đánh giá chính những chứng cứ đó để quyết định trách nhiệm hình sự của bị cáo, ranh giới giữa hoạt động điều tra và hoạt động xét xử có thể bị thu hẹp. Ngược lại, việc Tòa án ban hành quyết định hoặc yêu cầu chủ thể có thẩm quyền thực hiện hoạt động cần thiết, sau đó kiểm tra, đánh giá kết quả theo trình tự, thủ tục tố tụng, vừa bảo đảm Tòa án có đầy đủ điều kiện để làm rõ những vấn đề cần thiết cho việc xét xử, vừa phù hợp với chức năng xét xử và vị trí độc lập của Hội đồng xét xử. Mặt khác, việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án không thể được hiểu theo hướng Tòa án chỉ tiếp nhận thụ động kết quả điều tra, truy tố. Bản án chỉ có thể dựa trên những chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa và kết quả tranh tụng. Vì vậy, khi hồ sơ còn mâu thuẫn, nguồn chứng cứ chưa được kiểm tra hoặc tài liệu có dấu hiệu không bảo đảm tính hợp pháp, Hội đồng xét xử phải làm rõ trong phạm vi thẩm quyền. Giới hạn cần được xác định ở chỗ Tòa án không thay thế Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong việc thu thập, bổ sung chứng cứ làm căn cứ buộc tội.

Cần phân biệt việc Hội đồng xét xử chủ động làm rõ những vấn đề của vụ án với việc trực tiếp tìm kiếm, thu thập chứng cứ buộc tội. Trách nhiệm của Hội đồng xét xử thể hiện ở việc xác định đúng những vấn đề cần được kiểm tra tại phiên tòa; yêu cầu xuất trình, công bố và làm rõ tài liệu, chứng cứ; đối chiếu các chứng cứ có mâu thuẫn; xem xét đầy đủ chứng cứ buộc tội và gỡ tội; giải quyết các đề nghị về chứng cứ của Kiểm sát viên, người bào chữa và người tham gia tố tụng. Khi cần có thêm tài liệu, chứng cứ, Tòa án thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật: yêu cầu cung cấp, yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu có căn cứ. Cách thực hiện này vừa bảo đảm Tòa án làm rõ đầy đủ những vấn đề cần thiết cho việc xét xử, vừa phù hợp với nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

3.2. Kiểm tra và đánh giá chứng cứ

Điều 108 của BLTTHS hiện hành và Điều 119 dự thảo BLTTHS (sửa đổi) đều xác định mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để làm rõ tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đối với vụ án; người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được. Đồng thời, dự thảo BLTTHS (sửa đổi) cũng tiếp tục khẳng định những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật quy định thì không có giá trị pháp lý và không được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án[15].Trong giai đoạn xét xử, việc kiểm tra chứng cứ vì vậy không chỉ dừng lại ở việc xem xét nội dung tài liệu, mà còn bao gồm việc làm rõ nguồn chứng cứ, chủ thể cung cấp, điều kiện hình thành, trình tự thu thập, bảo quản và những vấn đề có liên quan đến tính hợp pháp, tính xác thực của chứng cứ; đồng thời tạo điều kiện để người tham gia tố tụng trình bày ý kiến, phản bác và yêu cầu làm rõ đối với chứng cứ được sử dụng tại phiên tòa.

Nếu kiểm tra chứng cứ nhằm xác định chứng cứ có đáp ứng các điều kiện để được sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án hay không thì đánh giá chứng cứ hướng đến việc xác định giá trị chứng minh của từng chứng cứ và của toàn bộ hệ thống chứng cứ đối với những vấn đề phải chứng minh trong vụ án. Một tài liệu được thu thập đúng trình tự, thủ tục không đương nhiên có giá trị chứng minh đối với toàn bộ nội dung buộc tội. Hội đồng xét xử phải xem xét từng chứng cứ trong mối liên hệ với các chứng cứ khác, làm rõ những điểm phù hợp, mâu thuẫn và mức độ chứng minh của từng tài liệu, chứng cứ; trên cơ sở đó đánh giá tổng thể, khách quan và toàn diện trước khi sử dụng làm căn cứ để đưa ra phán quyết.

Yêu cầu này được thể hiện trực tiếp trong nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục. Điều 250 BLTTHS hiện hành và Điều 267 dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định Hội đồng xét xử phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án thông qua việc hỏi, nghe ý kiến của những người tham gia tố tụng; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập; công bố biên bản, tài liệu và tiến hành các hoạt động tố tụng khác để kiểm tra chứng cứ tại phiên tòa[16]. Vì vậy, việc không trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra để bổ sung chứng cứ không làm giảm vai trò chủ động của Hội đồng xét xử trong việc làm rõ sự thật của vụ án. Trách nhiệm của Tòa án được thể hiện ở việc tổ chức xét xử, kiểm tra và đánh giá chứng cứ một cách trực tiếp, công khai, trên cơ sở tranh tụng, qua đó bảo đảm phán quyết được ban hành trên những chứng cứ đã được xem xét theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng.

3.3. Phân biệt hoạt động do Tòa án trực tiếp thực hiện với hoạt động được thực hiện theo quyết định, yêu cầu của Tòa án

Phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án đối với chứng cứ được thể hiện trong nhiều hoạt động tố tụng ở giai đoạn xét xử, như xét hỏi, xem xét tại chỗ, trưng cầu giám định, định giá tài sản, thực nghiệm điều tra và các hoạt động cần thiết khác để kiểm tra, xác minh, đánh giá chứng cứ. Vì vậy, khi xác định một hoạt động có phải là hoạt động Tòa án trực tiếp thu thập chứng cứ hay không, cần căn cứ vào chủ thể trực tiếp thực hiện, tính chất của hoạt động và trình tự, thủ tục được pháp luật quy định, thay vì chỉ căn cứ vào việc quyết định hoặc yêu cầu đó được ban hành bởi Tòa án.

Từ tiêu chí này có thể phân biệt hoạt động Tòa án trực tiếp thực hiện trong quá trình xét xử với hoạt động được tiến hành bởi cơ quan, người có thẩm quyền khác trên cơ sở quyết định hoặc yêu cầu của Tòa án. Trong phạm vi chức năng xét xử, Tòa án trực tiếp tiếp nhận, xem xét, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và giải quyết các yêu cầu tố tụng theo quy định của pháp luật. Đối với những vấn đề đòi hỏi hoạt động chuyên môn hoặc hoạt động điều tra, Tòa án thực hiện thẩm quyền của mình thông qua việc ban hành quyết định hoặc yêu cầu chủ thể có thẩm quyền tiến hành hoạt động tương ứng.

Sự phân biệt này được thể hiện khá rõ trong dự thảo BLTTHS (sửa đổi), Tòa án có thẩm quyền trưng cầu giám định, nhưng việc giám định do cá nhân, tổ chức có thẩm quyền giám định thực hiện; Tòa án có quyền yêu cầu định giá tài sản, còn việc định giá do Hội đồng định giá tài sản tiến hành. Tương tự, dự thảo BLTTHS (sửa đổi) giao Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định thực nghiệm điều tra, trong khi việc thực nghiệm điều tra do Cơ quan điều tra tiến hành, Điều tra viên chủ trì và trong trường hợp cần thiết Viện kiểm sát có thể tiến hành[17]. Như vậy, thẩm quyền quyết định hoặc yêu cầu thực hiện một hoạt động tố tụng không đồng nhất với việc Tòa án trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra hoặc hoạt động chuyên môn đó.

Sự khác biệt này cũng cần được làm rõ đối với việc xem xét tại chỗ. Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) tiếp tục quy định Tòa án có thể xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên tòa, nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án. Hoạt động này cần được phân biệt với khám nghiệm hiện trường. Khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra do Điều tra viên chủ trì nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và làm rõ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án. Trong khi đó, việc xem xét tại chỗ do Tòa án thực hiện ở giai đoạn xét xử nhằm trực tiếp xem xét, kiểm tra vật chứng hoặc địa điểm có liên quan để đánh giá chứng cứ và làm rõ những vấn đề cần thiết cho việc xét xử[18]. Sự khác nhau về chủ thể, mục đích và phương thức thực hiện là cơ sở để phân biệt hai hoạt động này.

3.4. Yêu cầu bổ sung chứng cứ và hậu quả khi chứng cứ không được bổ sung

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, cần phân biệt hai tình huống. Nếu thiếu sót thuộc trường hợp phải điều tra bổ sung thì Tòa án trả hồ sơ theo quy định của dự thảo BLTTHS (sửa đổi). Nếu chỉ cần bổ sung tài liệu, chứng cứ mà không phải trả hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung. Trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được thì Tòa án tiến hành xét xử[19]. Cơ chế này có ý nghĩa quan trọng vì xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm bổ sung căn cứ buộc tội, đồng thời tránh kéo dài tố tụng chỉ vì một yêu cầu bổ sung không thể thực hiện.

Quy định Tòa án tiến hành xét xử khi Viện kiểm sát không bổ sung được chứng cứ không đồng nghĩa với việc mặc nhiên tuyên bị cáo không có tội. Hội đồng xét xử vẫn phải đánh giá toàn bộ chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng. Tuy nhiên, nếu phần chứng cứ còn thiếu liên quan đến căn cứ buộc tội, và sau khi đã áp dụng các biện pháp hợp pháp theo trình tự luật định vẫn không đủ, không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội, thì phải áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội[20]. Trong trường hợp này, không nên đặt ra trách nhiệm để Tòa án tiếp tục tìm kiếm chứng cứ nhằm hoàn thiện sự buộc tội.

Cách xử lý trên cũng phải gắn với giới hạn xét xử. Nếu Hội đồng xét xử chỉ có cách đánh giá pháp lý khác đối với chính hành vi và các tình tiết đã được truy tố, thì đây là vấn đề thuộc quyền độc lập đánh giá và áp dụng pháp luật trong giới hạn luật định. Ngược lại, nếu việc xem xét tội danh hoặc khung hình phạt khác đòi hỏi phải chứng minh thêm hành vi hoặc tình tiết mới thuộc nội dung buộc tội, việc bổ sung chứng cứ phải được thực hiện đúng chủ thể, thẩm quyền và thủ tục, đồng thời bảo đảm đầy đủ quyền bào chữa.

Đặc biệt, quy định “Viện kiểm sát không bổ sung được thì Tòa án tiến hành xét xử” phải được đặt trong mối liên hệ với nguyên tắc suy đoán vô tội và trách nhiệm chứng minh. Nếu chứng cứ còn thiếu không làm thay đổi căn cứ kết tội, Hội đồng xét xử có thể quyết định vụ án trên cơ sở toàn bộ chứng cứ hiện có đã được kiểm tra, đánh giá. Ngược lại, nếu chứng cứ còn thiếu là điều kiện cần để chứng minh yếu tố cấu thành tội phạm, chủ thể thực hiện hành vi hoặc tình tiết định khung bất lợi cho bị cáo thì sự thiếu hụt đó phải được phản ánh trong kết quả đánh giá chứng cứ; không thể sử dụng suy đoán bất lợi cho bị cáo để thay thế phần chứng minh còn thiếu.

Trong thực tiễn, vấn đề cần làm rõ là khi nào phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung và khi nào chỉ cần yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ. Tiêu chí không thể chỉ dừng ở việc “còn thiếu chứng cứ”, mà phải căn cứ vào tính chất của nội dung cần làm rõ: tài liệu cần bổ sung đã tồn tại và có thể được cung cấp hay việc làm rõ đòi hỏi phải tiến hành hoạt động điều tra; nội dung cần chứng minh có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định tội phạm, người thực hiện tội phạm hay chỉ liên quan đến tình tiết khác của vụ án; việc bổ sung có làm phát sinh nội dung buộc tội mới hay không. Việc xác định rõ các tiêu chí này sẽ giúp lựa chọn đúng phương thức tố tụng và hạn chế việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án không cần thiết.

3.5. Quyền đề nghị thu thập chứng cứ của người bào chữa và việc Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu về chứng cứ

Quyền thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ là những bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện quyền bào chữa. Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định người bào chữa có quyền thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản. Đồng thời quy định trường hợp người bào chữa không thể tự thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa thì có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập[21]. Việc thực hiện các quyền này không làm thay đổi nguyên tắc người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội, cũng không làm chuyển trách nhiệm chứng minh tội phạm sang người bị buộc tội hoặc người bào chữa.

Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, dự thảo đã quy định cơ chế để Tòa án xem xét, giải quyết các yêu cầu về chứng cứ. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải giải quyết yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; nếu yêu cầu có căn cứ thì giải quyết theo thẩm quyền hoặc thông báo cho người có thẩm quyền giải quyết, trường hợp không chấp nhận phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do[22]. Đồng thời, dự thảo BLTTHS (sửa đổi) trao cho Tòa án quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án. Hiệu lực của yêu cầu này còn được bảo đảm bởi khoản 4 Điều 5 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), theo đó cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và trả lời bằng văn bản trong thời hạn được yêu cầu; trường hợp không thực hiện mà không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.[23]

Việc Tòa án chấp nhận yêu cầu, đề nghị về cung cấp, bổ sung chứng cứ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ chỉ nhằm bảo đảm những tài liệu có liên quan được đưa vào quá trình tố tụng để xem xét, không đồng nghĩa với việc xác định trước giá trị chứng minh của tài liệu đó. Mọi chứng cứ, không phụ thuộc vào chủ thể cung cấp, đều phải được kiểm tra, đánh giá về tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan trước khi được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án. Qua đó, người bị buộc tội và người bào chữa có điều kiện thực hiện thực chất quyền đưa ra chứng cứ, yêu cầu, đồng thời nguyên tắc tranh tụng được bảo đảm.

4. Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn xét xử

4.1. Chưa phân định rõ giữa xác minh chứng cứ và thu thập chứng cứ

BLTTHS hiện hành và dự thảo BLTTHS (sửa đổi) đều xác định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, trách nhiệm này phải được thực hiện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cơ quan trong từng giai đoạn tố tụng. Đối với Tòa án, việc làm rõ các vấn đề của vụ án được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động xét xử, trên cơ sở tiếp nhận, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, yêu cầu cung cấp hoặc bổ sung tài liệu, chứng cứ và bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm phán quyết có căn cứ, đúng pháp luật không nên được đồng nhất với trách nhiệm trực tiếp tìm kiếm, thu thập chứng cứ để chứng minh sự buộc tội.

BLTTHS hiện hành quy định Tòa án tự xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp đã yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung nhưng Viện kiểm sát không bổ sung được. Quy định này trên thực tế đặt ra vấn đề về ranh giới giữa hoạt động kiểm tra, xác minh chứng cứ nhằm phục vụ xét xử với hoạt động thu thập chứng cứ nhằm chứng minh sự buộc tội. Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) đã có sự điều chỉnh theo hướng không tiếp tục quy định cơ chế Tòa án tự xác minh, thu thập chứng cứ trong trường hợp này, nhưng vẫn bảo đảm cho Tòa án các phương thức cần thiết để tiếp nhận, yêu cầu cung cấp, kiểm tra, xác minh và thẩm định tính xác thực của tài liệu, chứng cứ. Sự điều chỉnh này góp phần xác định rõ hơn phương thức Tòa án thực hiện nhiệm vụ đối với chứng cứ trong giai đoạn xét xử, đồng thời hạn chế sự giao thoa giữa chức năng xét xử với chức năng điều tra, truy tố.

4.2. Việc tiếp cận, cung cấp và kiểm tra chứng cứ trong giai đoạn xét xử

Việc thực hiện quyền đưa ra chứng cứ và yêu cầu kiểm tra chứng cứ chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi người tham gia tố tụng có điều kiện tiếp cận và trình bày ý kiến đối với tài liệu, chứng cứ được sử dụng để giải quyết vụ án. Đối với tài liệu, chứng cứ được bổ sung ở giai đoạn xét xử, bên cạnh việc thực hiện thủ tục tiếp nhận và chuyển tài liệu theo quy định, cần bảo đảm quyền của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng có liên quan trong việc tiếp cận, kiểm tra và tranh tụng đối với chứng cứ đó.

Đối với dữ liệu điện tử, dự thảo đã bổ sung các quy định về thu thập, sao lưu, bảo quản, bảo đảm tính toàn vẹn và khả năng truy xuất dữ liệu[24]. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án kiểm tra tính hợp pháp, tính xác thực và giá trị chứng minh của dữ liệu điện tử tại phiên tòa, đồng thời bảo đảm việc xem xét các yêu cầu cung cấp, thu thập chứng cứ được thực hiện kịp thời và đúng thẩm quyền.[25]

4.3. Xử lý trường hợp chứng cứ chưa đầy đủ

Vấn đề đặt ra không chỉ là chứng cứ trong hồ sơ còn thiếu hoặc còn mâu thuẫn, mà là lựa chọn đúng phương thức tố tụng để làm rõ phần chứng cứ đó. Tòa án cần xác định nội dung có thể được làm rõ ngay thông qua xét hỏi, tranh tụng, kiểm tra, xác minh chứng cứ tại phiên tòa; nội dung chỉ cần yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ; và trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Việc lựa chọn đúng phương thức có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng và thời hạn giải quyết vụ án.

Tài liệu, chứng cứ cần bổ sung có thể có ý nghĩa khác nhau đối với việc giải quyết vụ án. Có trường hợp chứng cứ còn thiếu chỉ liên quan đến một tình tiết có thể được đánh giá cùng với các chứng cứ khác; nhưng cũng có trường hợp nội dung chưa được làm rõ liên quan trực tiếp đến yếu tố cấu thành tội phạm, chủ thể thực hiện hành vi hoặc tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, việc lựa chọn phương thức xử lý cần dựa trên tính chất của vấn đề phải chứng minh, khả năng bổ sung chứng cứ và ảnh hưởng của sự thiếu hụt đó đối với việc giải quyết vụ án, thay vì chỉ căn cứ vào việc “còn thiếu chứng cứ”.

Bên cạnh đó, cần đặc biệt lưu ý trường hợp việc bổ sung chứng cứ có thể dẫn đến việc làm rõ thêm hành vi hoặc tình tiết thuộc nội dung buộc tội. Khi đó, vấn đề không chỉ liên quan đến chứng cứ mà còn liên quan đến giới hạn xét xử và quyền bào chữa. Đây là cơ sở để phân biệt giữa việc Tòa án làm rõ chứng cứ trong phạm vi xét xử với việc bổ sung chứng cứ thuộc hoạt động điều tra, truy tố theo quy định của BLTTHS.

5. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những vấn đề nêu trên, việc hoàn thiện BLTTHS cần tập trung vào việc xác định rõ phương thức Tòa án thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đối với chứng cứ, bảo đảm Tòa án có đủ công cụ để xét xử và làm rõ vụ án, đồng thời quy định chặt chẽ chủ thể, thẩm quyền và thủ tục đối với các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ.

5.1. Thống nhất cách tiếp cận về trách nhiệm chứng minh và chức năng xét xử

Quy định nguyên tắc về trách nhiệm chứng minh cần được giải thích trong mối liên hệ với chức năng tố tụng của từng cơ quan. Việc Tòa án là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không có nghĩa Tòa án phải thực hiện cùng phương thức chứng minh với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Đối với Tòa án, trách nhiệm bảo đảm căn cứ cho phán quyết được thực hiện chủ yếu thông qua xét xử trực tiếp, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, giải quyết yêu cầu về chứng cứ và bảo đảm tranh tụng. Cách hiểu này vừa giữ được yêu cầu xác định sự thật khách quan của vụ án, vừa không làm mờ ranh giới giữa xét xử với điều tra và công tố.

Cùng với đó, cần bảo đảm rằng cơ chế Tòa án trực tiếp thu thập chứng cứ không được hiểu là thu hẹp trách nhiệm của Tòa án trong kiểm tra căn cứ của sự buộc tội. Hội đồng xét xử vẫn phải chủ động làm rõ mâu thuẫn, kiểm tra nguồn chứng cứ, tính hợp pháp, tính xác thực, tính liên quan và giá trị chứng minh của từng chứng cứ; đồng thời giải quyết đầy đủ các yêu cầu có căn cứ của người tham gia tố tụng.

5.2. Làm rõ nội hàm các thuật ngữ “yêu cầu thu thập” và “bổ sung chứng cứ”

Điều 270 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) sử dụng các thuật ngữ “kiểm tra”, “thẩm định tính xác thực”, “yêu cầu thu thập” và “bổ sung chứng cứ”. Để tránh cách hiểu khác nhau, văn bản hướng dẫn thi hành BLTTHS (sửa đổi) sau khi được ban hành cần hướng dẫn rõ phạm vi của từng hoạt động. Đồng thời, cần thống nhất rằng thẩm quyền ban hành quyết định hoặc yêu cầu không đồng nhất với chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động tương ứng. Tòa án có thể trưng cầu giám định, yêu cầu định giá, quyết định thực nghiệm điều tra theo thẩm quyền, nhưng hoạt động chuyên môn hoặc hoạt động điều tra phải do chủ thể mà Bộ luật quy định trực tiếp tiến hành. Đây là điểm cần được thể hiện rõ trong hướng dẫn áp dụng để tránh chồng lấn chức năng.

5.3. Bảo đảm hiệu quả của quyền yêu cầu cung cấp và việc giải quyết yêu cầu về chứng cứ

Quyền yêu cầu cung cấp, bổ sung tài liệu, chứng cứ cần được bảo đảm bằng cơ chế thực hiện rõ ràng và kịp thời. Quy định về quyền yêu cầu của Tòa án phải được áp dụng thống nhất với trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ và với thủ tục xem xét, giải quyết yêu cầu về chứng cứ trong giai đoạn xét xử.

Đối với yêu cầu của người bào chữa và người tham gia tố tụng, Tòa án cần xem xét, giải quyết theo đúng thẩm quyền; trường hợp có căn cứ và cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì sử dụng biện pháp tố tụng phù hợp để tài liệu, chứng cứ được cung cấp, bổ sung và kiểm tra tại phiên tòa. Việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu cần được thể hiện rõ căn cứ, qua đó bảo đảm quyền bào chữa và tính thực chất của tranh tụng.

Tài liệu, chứng cứ được cung cấp hoặc bổ sung theo yêu cầu vẫn phải được kiểm tra, đánh giá theo các điều kiện luật định và trong mối liên hệ với toàn bộ chứng cứ của vụ án; việc yêu cầu cung cấp không đồng nghĩa với việc xác định trước giá trị chứng minh của tài liệu đó.

Đối với dữ liệu điện tử, cần bảo đảm khả năng thực hiện nhanh chóng yêu cầu lưu trữ, bảo toàn, sao lưu và cung cấp dữ liệu, nhất là đối với nguồn dữ liệu có nguy cơ bị thay đổi hoặc không còn được lưu giữ. Tòa án sử dụng kết quả được cung cấp để kiểm tra, đánh giá theo trình tự tố tụng, không trực tiếp thực hiện các thao tác kỹ thuật thuộc thẩm quyền của chủ thể khác.

5.4. Hoàn thiện cơ chế xử lý khi tài liệu, chứng cứ không được bổ sung

Cần làm rõ cách thức xử lý trong trường hợp tài liệu, chứng cứ không được bổ sung theo yêu cầu của Tòa án. Trọng tâm không phải là việc tiếp tục tìm kiếm chủ thể để bổ sung chứng cứ, mà là xác định hậu quả pháp lý của sự thiếu hụt chứng cứ và căn cứ để Hội đồng xét xử quyết định vụ án.

Theo đó, cần phân biệt tính chất và ý nghĩa của tài liệu, chứng cứ không được bổ sung. Nếu phần chứng cứ còn thiếu không ảnh hưởng đến việc xác định những vấn đề cơ bản của vụ án, Hội đồng xét xử có thể giải quyết vụ án trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa. Ngược lại, nếu chứng cứ không được bổ sung liên quan trực tiếp đến căn cứ xác định tội phạm, người thực hiện tội phạm hoặc tình tiết làm bất lợi cho bị cáo thì sự thiếu hụt đó phải được xem xét khi đánh giá mức độ chứng minh của bên buộc tội. Không được sử dụng suy đoán hoặc yêu cầu bị cáo chứng minh theo hướng ngược lại để khắc phục phần chứng cứ còn thiếu.

Đồng thời, cần có hướng dẫn thống nhất về giới hạn trách nhiệm của Tòa án trong trường hợp này. Sau khi đã thực hiện các thẩm quyền tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật mà chứng cứ vẫn không thể được bổ sung, Tòa án phải giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ hiện có đã được kiểm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng. Nếu những chứng cứ đó không đủ để làm sáng tỏ căn cứ buộc tội, kết tội thì hậu quả pháp lý phải được xác định theo nguyên tắc suy đoán vô tội, thay vì đặt ra yêu cầu Tòa án tiếp tục tìm kiếm chứng cứ để hoàn thiện sự buộc tội.

5.5. Bảo đảm sự thống nhất giữa giới hạn xét xử, chứng cứ và quyền bào chữa

Việc áp dụng quy định về giới hạn xét xử cần bảo đảm sự thống nhất với phạm vi buộc tội, yêu cầu về chứng cứ và quyền bào chữa. Theo đó, cần phân biệt trường hợp Hội đồng xét xử có cách đánh giá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật khác đối với chính hành vi và những tình tiết đã được truy tố với trường hợp việc xem xét tội danh hoặc khung hình phạt khác đòi hỏi phải làm rõ thêm hành vi, tình tiết thuộc nội dung buộc tội. Trường hợp thứ nhất được xem xét trong phạm vi xét xử mà pháp luật quy định; trường hợp thứ hai phải được xử lý theo đúng trình tự, thủ tục về bổ sung chứng cứ, đồng thời bảo đảm để bị cáo và người bào chữa được tiếp cận chứng cứ, trình bày ý kiến và thực hiện đầy đủ quyền bào chữa.[26]

Khi chứng cứ chưa đầy đủ, còn mâu thuẫn hoặc cần làm rõ, phương thức xử lý phải tương ứng với tính chất của vấn đề: nội dung thuộc phạm vi xét xử thì làm rõ tại phiên tòa; tài liệu đã tồn tại và có thể cung cấp thì yêu cầu bổ sung; trường hợp cần thực hiện hoạt động điều tra thì xử lý theo thủ tục điều tra bổ sung. Cách thức này vừa bảo đảm căn cứ giải quyết vụ án, vừa bảo đảm đúng thẩm quyền của Tòa án.

Khi xem xét bản án theo thủ tục phúc thẩm, những thiếu sót liên quan đến chứng cứ cần được đánh giá trên cơ sở tính chất, mức độ và ảnh hưởng đối với tính có căn cứ, hợp pháp của bản án, đồng thời gắn với nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan trong từng giai đoạn tố tụng[27]. Đối với Tòa án, việc xác định trách nhiệm cần căn cứ vào việc đã thực hiện đầy đủ hay chưa các nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá chứng cứ, giải quyết yêu cầu về chứng cứ và các thẩm quyền tố tụng thuộc giai đoạn xét xử. Cách đánh giá này bảo đảm xác định đúng nguyên nhân của thiếu sót và trách nhiệm của từng chủ thể, qua đó tạo điều kiện để Tòa án tập trung thực hiện đầy đủ, độc lập chức năng xét xử.

Cần tiếp tục hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định về giới hạn xét xử, bổ sung chứng cứ và quyền bào chữa, nhất là khi Hội đồng xét xử nhận thấy có căn cứ xem xét tội danh hoặc khung hình phạt khác với nội dung truy tố. Trong tổng kết thực tiễn và đánh giá nguyên nhân bản án bị hủy, sửa, cũng cần xác định rõ thiếu sót phát sinh ở giai đoạn nào và thuộc trách nhiệm của chủ thể nào để có biện pháp khắc phục phù hợp.

Kết luận

Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) về cơ bản kế thừa quy định hiện hành về giới hạn xét xử, đồng thời có những sửa đổi, bổ sung đáng chú ý về các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án đối với tài liệu, chứng cứ. Việc không tiếp tục quy định Tòa án tự xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ khi Viện kiểm sát không bổ sung được, trong khi vẫn duy trì các thẩm quyền cần thiết để yêu cầu cung cấp, bổ sung, kiểm tra, xác minh và thẩm định tính xác thực của chứng cứ, cho thấy sự điều chỉnh rõ hơn về phương thức Tòa án thực hiện nhiệm vụ đối với chứng cứ.

Vấn đề cốt lõi không phải là Tòa án có trực tiếp thu thập chứng cứ hay không, mà là xác định đúng phạm vi và phương thức Tòa án thực hiện chức năng xét xử. Việc Tòa án thực hiện chức năng xét xử trước hết thể hiện ở việc kiểm tra, đánh giá đầy đủ chứng cứ làm căn cứ buộc tội, kết tội; làm rõ những vấn đề cần thiết cho việc giải quyết vụ án; đánh giá khách quan, toàn diện chứng cứ và thực hiện đúng các thẩm quyền yêu cầu cung cấp, yêu cầu bổ sung hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi có căn cứ. Trường hợp chứng cứ không thể được bổ sung, Hội đồng xét xử phải quyết định vụ án trên cơ sở những chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội. Theo hướng đó, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật cần bảo đảm ba yêu cầu: xác định đúng trách nhiệm chứng minh theo chức năng của từng cơ quan tiến hành tố tụng; bảo đảm Tòa án có đầy đủ thẩm quyền và điều kiện để yêu cầu, kiểm tra, đánh giá, làm rõ chứng cứ phục vụ xét xử; đồng thời bảo đảm giới hạn xét xử, quyền bào chữa, tranh tụng trong xét xử và nguyên tắc suy đoán vô tội. Thực hiện đồng bộ các yêu cầu này sẽ góp phần nâng cao chất lượng xét xử và phát huy đầy đủ vai trò của Tòa án trong thực hiện quyền tư pháp./.

NGUYỄN TRÍ TUỆ - Tiến sĩ, Thẩm phán, nguyên Phó Chánh án thường trực Tòa án nhân dân tối cao

[1] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[2] Điều 2 và Điều 15 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[3] Điều 298 BLTTHS hiện hành; Điều 315 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[4] Nguyễn Mai Bộ, Vũ Thị Hà, Giới hạn xét xử và phạm vi quyết định về hình sự của Hội đồng xét xử sơ thẩm,  https://tapchitoaan.vn/gioi-han-xet-xu-va-pham-vi-quyet-dinh-ve-hinh-su%C2%A0%C2%A0cua-hoi-dong-xet-xu-so-tham6821.html, truy cập ngày 01/10/2026.

[5] Nguyễn Hữu Hòa, Bàn về “Giới hạn của việc xét xử” theo Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và hướng hoàn thiện, https://tapchitoaan.vn/ban-ve-%E2%80%9Cgioi-han-cua-viec-xet-xu%E2%80%9D-theo-dieu-298-bo-luat-to-tung-hinh-su-nam-2015-va-huong-hoan-thien16144.html, truy cập ngày 01/10/2026.

[6] Điều 15 BLTTHS hiện hành.

[7] Các điều 16, 23, 24 và 30 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[8] Đinh Thế Hưng, Nguyễn Trường Giang, Bàn về giới hạn chứng minh và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 23/2017, tr.1-7.

[9] Điều 14 và khoản 2 Điều 21 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[10] Điều 252 BLTTHS hiện hành; Điều 270 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[11] Nguyễn Tất Trình, Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, https://tapchitoaan.vn/toa-an-xac-minh-thu-thap-bo-sung-chung-cu, truy cập ngày 01/10/2026; Võ Thị Kim Oanh, Đinh Văn Đoàn, Thu thập chứng cứ của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, số 03(175)/2024, tr.39-50.

[12] Điều 297 và Điều 301 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[13] Điều 102 và Điều 103 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[14] Điều 24, Điều 46 và các điều 337, 338, 339 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[15] Điều 108 BLTTHS hiện hành; khoản 2 Điều 92 và Điều 119 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 21/9/2026.

[16] Điều 250 BLTTHS hiện hành; Điều 267 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[17] Điều 49 và Điều 221 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[18] Điều 218 và Điều 270 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[19] Điều 297 và Điều 301 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[20] Điều 14, khoản 2 Điều 21 và khoản 3 Điều 301 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[21] Điểm h, điểm k khoản 1 Điều 77 và khoản 3 Điều 85 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[22] Điều 296 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[23] Khoản 4 Điều 5 và Điều 270 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[24] Điều 18 và Điều 118 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[25] Lê Nguyên Thanh, Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, số 03(175)/2024, tr. 51-62.

[26] Điều 315 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

[27] Điều 375 dự thảo BLTTHS (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

2. Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất số 52/VBHN-VPQH hợp nhất Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3. Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất số 82/VBHN-VPQH ngày 26/3/2026 hợp nhất Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.

4. Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026 hợp nhất Bộ luật Tố tụng hình sự.

5. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), dự thảo ngày 15/10/2026.

6. Nguyễn Mai Bộ, Vũ Thị Hà, Giới hạn xét xử và phạm vi quyết định về hình sự của Hội đồng xét xử sơ thẩm, https://tapchitoaan.vn/gioi-han-xet-xu-va-pham-vi-quyet-dinh-ve-hinh-su%C2%A0%C2%A0cua-hoi-dong-xet-xu-so-tham6821.html, truy cập ngày 01/10/2026.  

7. Nguyễn Hữu Hòa, Bàn về “Giới hạn của việc xét xử” theo Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và hướng hoàn thiện, https://tapchitoaan.vn/ban-ve-%E2%80%9Cgioi-han-cua-viec-xet-xu%E2%80%9D-theo-dieu-298-bo-luat-to-tung-hinh-su-nam-2015-va-huong-hoan-thien16144.html, truy cập ngày 01/10/2026.

8. Nguyễn Tất Trình, Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, https://tapchitoaan.vn/toa-an-xac-minh-thu-thap-bo-sung-chung-cu, truy cập ngày 01/10/2026.

9. Võ Thị Kim Oanh, Đinh Văn Đoàn, Thu thập chứng cứ của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, số 03(175) năm 2024.

10. Đinh Thế Hưng, Nguyễn Trường Giang, Bàn về giới hạn chứng minh và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 23 năm 2017.

11. Lê Nguyên Thanh, Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, số 03(175) năm 2024.