Hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với pháp nhân thương mại trong Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
Improving provisions on the criminal liability and penalties for commercial legal entities in the Draft Penal Code (amended)

(TCTA) - Tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất của Quốc hội khóa XVI (tháng 8/2026), Chính phủ đã trình Quốc hội cho ý kiến lần đầu về dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Theo đó, dự thảo Bộ luật Hình sự được sửa đổi tổng thể với 25 chương, 415 điều. So với Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025), đã bỏ 08 điều, bổ sung 14 điều mới, sửa đổi 301 điều luật, giữ nguyên 100 điều . Trong phạm vi sửa đổi, các quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại có sự thay đổi căn bản, bao gồm về khái niệm tội phạm, nguyên tắc và phạm vi chịu trách nhiệm hình sự. Trong bài viết này, tác giả xin trao đổi về một số nội dung sửa đổi và đề xuất hướng hoàn thiện các quy định liên quan đến pháp nhân thương mại trong dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi).

Đặt vấn đề

Việc bổ sung chế định trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân thương mại (PNTM) trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) từng được đánh giá là bước chuyển mang tính đột phá trong tư duy lập pháp hình sự nước ta. Tuy nhiên, sau nhiều năm thi hành, bức tranh thực tiễn áp dụng cho thấy, tỷ lệ xử lý còn hạn chế, bộc lộ nhiều điểm nghẽn về cả mặt lý luận xác định tư cách chủ thể, lẫn kỹ thuật lập pháp và quy trình tố tụng. Tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất của Quốc hội khóa XVI (tháng 8/2026), Dự thảo BLHS (sửa đổi) được Chính phủ trình xem xét đã đặt dấu mốc quan trọng cho một đợt cải cách toàn diện. Trong đó, nhóm quy định liên quan đến PNTM tiếp tục đứng trước một bước ngoặt căn bản: từ việc tái định hình khái niệm tội phạm, chuyển dịch mô hình chịu TNHS, mở rộng danh mục tội danh, đến điều chỉnh chế tài hình phạt. Bài viết này tập trung phân tích một số điểm cốt lõi trong các nội dung sửa đổi về PNTM của BLHS (thể hiện trong bản dự thảo Chính phủ đã tiếp thu ý kiến của Đại biểu Quốc hội và được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp tháng 9/2026)2.

1. Tổng quan về trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Trong hệ thống pháp luật hình sự của các quốc gia trên thế giới, TNHS của pháp nhân đã có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời. Việc kết tội đối với pháp nhân được ghi nhận trong các phán quyết của Tòa án ở Pháp, Anh ngay từ thế kỷ XVII3. Bên cạnh sự tương đồng, thì cho đến nay, chế định TNHS của pháp nhân trong hệ thống pháp luật các quốc gia vẫn còn một số khác biệt, xuất phát từ những triết lý khác nhau, cụ thể là:

Thứ nhất, về vai trò của chủ thể chịu TNHS, hiện có hai xu hướng cơ bản:

(1) Theo học thuyết đồng nhất trách nhiệm (Identification Liability): coi pháp nhân phải chịu TNHS tương tự như con người trong một số trường hợp đặc biệt. Theo đó, có sự “đồng nhất” hành vi phạm tội, lỗi và TNHS của người quản lý, lãnh đạo, điều hành pháp nhân, với hành vi phạm tội, lỗi và TNHS của chính pháp nhân đó4. Theo trường phái này, luật hình sự nhiều nước, như Anh, Bỉ, Hà Lan, Canada, Trung Quốc quy định pháp nhân là chủ thể trực tiếp của tội phạm. Ví dụ: Khoản 1 Điều 51 BLHS Hà Lan quy định: “Các tội phạm có thể được thực hiện bởi các cá nhân hoặc pháp nhân”5; Luật Hình sự năm 2004 của Pháp quy định, pháp nhân phạm tội phải chịu TNHS về mọi tội phạm giống như cá nhân vi phạm6.

(2) Theo học thuyết trách nhiệm gián tiếp (Vicarious Liability): pháp nhân có thể phải chịu TNHS cho các hành vi phạm tội do nhân viên hoặc đại lý được pháp nhân ủy quyền thực hiện7. Theo trường phái này, pháp luật chỉ kết tội đối với cá nhân, pháp nhân là chủ thể mở rộng của TNHS mà không phải là chủ thể tội phạm (tiêu biểu như Nhật Bản, Cộng hòa Áo…). Về loại hình pháp nhân phải chịu TNHS, pháp luật các nước quy định diện các loại pháp nhân phải chịu TNHS khá rộng. BLHS Trung Quốc quy định bao gồm: công ty, xí nghiệp, đơn vị sự nghiệp, cơ quan, đoàn thể với tên gọi chung là “đơn vị”. Cộng hòa Pháp quy định TNHS đối với mọi pháp nhân, không phân biệt khu vực công hay tư và chỉ loại trừ Nhà nước và các tổ chức không có tư cách pháp nhân. Tương tự, Nhật Bản quy định cả PNTM và phi thương mại, đồng thời, TNHS của pháp nhân được quy định cả trong BLHS và các luật chuyên ngành.

Thứ hai, về điều kiện chịu TNHS của pháp nhân, điểm chung là phần lớn các nước quy định về hành vi, lỗi của pháp nhân thông qua hành vi, lỗi của những người quản lý, điều hành pháp nhân. Theo đó, phải thỏa mãn ba điều kiện: (i) hành vi phạm tội do người quản lý, điều hành pháp nhân đó thực hiện; (ii) người quản lý, điều hành của pháp nhân phải thực hiện hành vi phạm tội nhân danh, thay mặt hoặc đại diện cho pháp nhân; (iii) hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân8.

Thứ ba, về phạm vi tội danh mà pháp nhân phải chịu TNHS, hệ thống pháp luật coi pháp nhân là chủ thể trực tiếp của tội phạm, hay chỉ coi pháp nhân là chủ thể phái sinh chịu TNHS, thì phạm vi chịu TNHS của pháp nhân rất rộng. Thậm chí, Điều 221 BLHS Cộng hòa Pháp quy định pháp nhân phải chịu TNHS về tội giết người9. Bên cạnh đó, phạm vi TNHS của pháp nhân còn được mở rộng đáng kể, do hệ thống pháp luật nhiều nước quy định về tội phạm, TNHS ở cả BLHS và các luật chuyên ngành.     

Thứ tư, về hình phạt đối với pháp nhân chịu TNHS: điểm chung là các nước đều quy định hình phạt tiền là chủ yếu (Anh, Hoa Kỳ, Úc, Canada, Pháp, Bỉ, Đức, Trung Quốc…). Một số nước áp dụng thêm biện pháp khác, như khôi phục lại tình trạng ban đầu, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại (Mỹ, Nhật Bản). Trong khi đó, một số nước quy định hình phạt đối với pháp nhân rất nghiêm khắc như: giải thể, đóng cửa tạm thời, cấm hoạt động vĩnh viễn, buộc đặt dưới sự giám sát, tịch thu tài sản (Cộng hòa Pháp).

 2. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và định hướng sửa đổi   

2.1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Với việc bổ sung chế định TNHS của PNTM, BLHS năm 2015 đã đánh dấu bước ngoặt lớn cả về tư duy lập pháp và điều chỉnh chính sách hình sự của Nhà nước ta. Việc bổ sung quy định này không chỉ làm thay đổi hoàn toàn lý luận về khái niệm tội phạm, về năng lực chịu TNHS, về các yếu tố lỗi, hệ thống hình phạt,… mà còn tác động rất lớn và làm thay đổi căn bản về trình tự tố tụng hình sự. Vào thời điểm ban hành BLHS năm 2015, trên thế giới đã có 119 nước quy định TNHS của pháp nhân. Trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng có 5/10 nước đã quy định về vấn đề này. Như vậy, việc bổ sung quy định xử lý hình sự đối với PNTM trong BLHS năm 2015 vừa nhằm đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh mới, vừa phù hợp chung với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập, bảo đảm thực thi các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Dựa trên những tiêu chí định hình TNHS của pháp nhân ở phần tổng quan, có thể thấy một số đặc trưng về TNHS của PNTM trong BLHS năm 2015 như sau:

Thứ nhất, về chủ thể chịu TNHS: theo khoản 2 Điều 2, thì chỉ PNTM phạm một tội đã được quy định tại Điều 79 của Bộ luật này mới phải chịu TNHS. Khoản 2 Điều 3 quy định nguyên tắc xử lý đối với PNTM với 04 chính sách tương tự như cá nhân phạm tội. Từ các nguyên lý trên, tại Điều 8, khái niệm tội phạm được xác định “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, …”. Như vậy, ngay từ các điều khoản đầu tiên và cơ bản nhất, Dự thảo BLHS đã khẳng định cá nhân mới là chủ thể thực hiện hành vi phạm tội. PNTM không phải là chủ thể trực tiếp thực hiện tội phạm mà chỉ là chủ thể phải chịu TNHS phái sinh từ hành vi phạm tội do cá nhân thực hiện nhân danh, vì lợi ích và dưới sự chỉ đạo của pháp nhân. Tính nhất quán này được thể hiện rõ khi tên Chương XI cũng như các điều khoản trong Phần những quy định chung và Phần các tội phạm đều chuẩn hóa việc sử dụng khái niệm “PNTM phải chịu TNHS” thay cho khái niệm “PNTM phạm tội”.

Thứ hai, về điều kiện chịu TNHS: Điều 78 quy định khá tương đồng với quy định của các nước trên thế giới. Theo đó, PNTM chỉ phải chịu TNHS khi có đủ các điều kiện: (i) hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh PNTM; (ii) hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của PNTM; (iii) hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của PNTM. Ngoài ra, còn phải có điều kiện chung là, phải chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 BLHS năm 2015.

Thứ ba, về phạm vi chịu TNHS của PNTM: Điều 79 quy định 57 tội danh, trong đó có 29 tội thuộc Chương XVIII (Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế) và 09 tội thuộc Chương XIX (Các tội phạm về môi trường)10. Trong lần sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạm vi chịu TNHS của PNTM được tăng lên thành 33 tội (thêm tội tài trợ khủng bố - Điều 300 và tội rửa tiền - Điều 324)11.

So sánh với pháp luật hình sự các nước cho thấy, phạm vi chịu TNHS của pháp nhân ở Việt Nam theo BLHS năm 2015 hẹp hơn rất nhiều, cả về loại hình pháp nhân và phạm vi các tội phạm pháp nhân phải chịu TNHS.

Thứ tư, về hình phạt: Điều 36 quy định các hình phạt đối với PNTM phạm tội gồm: (i) hình phạt chính: phạt tiền, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; (ii) hình phạt bổ sung: cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính. Đối với mỗi tội phạm, PNTM chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung12. Quy định này cho thấy, hình phạt áp dụng đối với PNTM phạm tội của Việt Nam khá tương đồng với pháp luật hình sự ở các nước.

  Thứ năm, về đặc điểm kết cấu các điều luật, trong cấu thành của 33 tội mà PNTM phải chịu TNHS, đều có cách thiết kế điều luật giống nhau, theo đó, không có cấu thành riêng mô tả các dấu hiệu phạm tội của PNTM. Cả 33 tội danh đều dành khoản cuối của điều luật quy định các khung hình phạt đối với PNTM phạm tội trên cơ sở cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng TNHS như với cá nhân.

2.2. Thực tiễn áp dụng quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Số liệu thống kê qua tổng kết 08 năm thi hành BLHS năm 2015 cho thấy, tỷ lệ khởi tố các tội phạm do PNTM thực hiện rất thấp. Tính từ ngày 01/01/2018 đến hết năm 2025, cả nước chỉ khởi tố 16 vụ đối với PNTM (chiếm 0,0023%). Tòa án đã xét xử sơ thẩm 13 vụ/41 PNTM, xét xử phúc thẩm 01 vụ/01 bị cáo, tập trung vào một số tội như tội trốn thuế (chiếm 47%), tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (chiếm 23,1%), tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (chiếm 23,1%), tội buôn lậu (chiếm 7,3%). Về áp dụng hình phạt, chủ yếu là hình phạt tiền (chiếm 94,1%), ngoài ra còn có 01 vụ án, PNTM bị áp dụng hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (chiếm 5,9%). Nguyên nhân được nêu là do quy định về TNHS của PNTM là vấn đề mới, chưa có tiền lệ, các cơ quan tố tụng lúng túng trong áp dụng. Bên cạnh đó, nhiều quy định của BLHS chưa thực sự rõ ràng nên việc áp dụng còn khó khăn, vướng mắc, dẫn đến đa số các trường hợp chỉ xử lý vi phạm hành chính đối với PNTM vi phạm13. Từ những hạn chế trong thực tiễn thi hành BLHS, có thể chỉ ra một số điểm bất cập sau:

Thứ nhất, việc lựa chọn phương án quy định PNTM là chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội và phải chịu TNHS tương tự như cá nhân (theo thuyết đồng nhất trách nhiệm), dường như khó phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Pháp nhân nói chung, hay PNTM nói riêng, đều là những thực thể pháp lý do con người tạo ra, PNTM không có cơ thể sinh lý, không thể tự thân có ý thức và thể hiện ý chí, nếu không thông qua cá nhân14. Vì vậy, trong khi đã xác định TNHS của cá nhân thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời, lại “nhân bản” hành vi đó, để quy cho PNTM là bất hợp lý.

Thứ hai, chủ thể chịu TNHS luôn phải gắn với yếu tố xác định lỗi. Như đã nêu, PNTM không phải là thực thể sinh học như con người, bởi vậy, việc pháp luật áp đặt chủ thể này cũng có những yếu tố chủ quan như một cá nhân, như: “a) Câu kết với tổ chức, cá nhân khác để tổ chức thực hiện tội phạm; b) Chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận để cá nhân phạm tội 02 lần trở lên; …” (khoản 1 Điều 86) và trong các tội danh cụ thể, áp đặt cả những tình tiết tăng nặng TNHS như: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; tái phạm nguy hiểm; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức, thậm chí, PNTM còn mặc nhiên bị áp dụng cả các tình tiết về “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”; “làm chết người”15,… là hoàn toàn không phù hợp.

Thứ ba, việc quy định PNTM là chủ thể tội phạm trực tiếp đã chi phối toàn bộ nguyên tắc, cũng như trình tự, thủ tục cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025). Về tư cách tham gia tố tụng, PNTM là bị can khi bị khởi tố về hình sự (Điều 60 BLTTHS năm 2015) và là bị cáo khi Tòa án quyết định đưa ra xét xử (Điều 61 BLTTHS năm 2015). Quá trình tiến hành tố tụng, thủ tục tố tụng với PNTM được quy định tách biệt như một bị can, bị cáo độc lập. Theo đó, khoản 1 Điều 432 BLTTHS năm 2015 quy định khởi tố vụ án hình sự khi xác định có dấu hiệu tội phạm do pháp nhân thực hiện; khoản 1 Điều 433 BLTTHS năm 2015 quy định khởi tố bị can khi đủ căn cứ xác định pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội. Đồng thời, Điều 436 BLTTHS năm 2015 quy định riêng 04 biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân16. Khi tiến hành tố tụng, những vấn đề cần phải chứng minh đối với PNTM bị buộc tội tương tự như cá nhân, gồm: (i) có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; (ii) lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân; (iii) tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra; (iv) những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS và tình tiết khác liên quan đến miễn hình phạt; (v) nguyên nhân và điều kiện phạm tội (Điều 441 BLTTHS năm 2015). Có thể thấy, các nội dung và thủ tục tố tụng đối với PNTM nói trên đã tạo ra mâu thuẫn rất lớn với nguyên tắc xác định trách nhiệm của PNTM thông qua hành vi của cá nhân (Điều 75 BLHS năm 2015). Mặc dù được xác định tư cách chủ thể là bị can, bị cáo, PNTM vẫn là chủ thể tội phạm “ảo”, vì: (1) hành vi phạm tội phải chứng minh thực chất chỉ có hành vi của cá nhân; (2) yếu tố lỗi phải chứng minh cũng chỉ là lỗi của cá nhân; (3) hậu quả thiệt hại cũng chỉ có một, không thể chứng minh thiệt hại của hành vi phạm tội của cá nhân riêng với hậu quả do PNTM gây ra. Việc tạo ra hai tuyến chủ thể tội phạm và hai trình tự tố tụng riêng biệt nói trên, cũng tạo ra sự bất bình đẳng và không bảo đảm đầy đủ quyền của PNTM. Trong khi chưa làm rõ hành vi phạm tội và lỗi của cá nhân, thì PNTM cũng đã bị tiến hành các thủ tục tố tụng. Thực tế, điều này sẽ có tác động rất tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của PNTM (nếu áp dụng trình tự tố tụng và áp dụng các biện pháp cưỡng chế riêng đối với chủ thể này).

2.3. Những nội dung sửa đổi về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) 

Phạm vi và nội dung sửa đổi sẽ tác động rất lớn đến chính sách hình sự của Nhà nước ta. Liên quan đến TNHS của PNTM, dự thảo BLHS (sửa đổi) ngày 22/9/2026 và ngày 09/10/2026 (sau đây gọi tắt là Dự thảo) có những nội dung sửa đổi đáng lưu ý sau:

Thứ nhất, về Phần những quy định chung: (1) tại Điều 8 về khái niệm tội phạm, Dự thảo đã bỏ PNTM ra khỏi khái niệm tội phạm. Như vậy, về định nghĩa, PNTM sẽ không còn là chủ thể thực hiện hành vi phạm tội như quy định của BLHS năm 2015. (2) Tại Điều 3 về nguyên tắc xử lý đối với PNTM phải chịu TNHS, Dự thảo bổ sung nội dung: “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại được xác định trên cơ sở hành vi phạm tội do cá nhân thực hiện với danh nghĩa của pháp nhân thương mại đó”(điểm a khoản 2 Điều 3); bổ sung nội dung về chính sách nghiêm trị đối với PNTM “lợi dụng tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc không khắc phục hậu quả” (điểm c khoản 2 Điều 3).

Thứ hai, về các quy định riêng đối với PNTM (Chương XI): (1) Dự thảo đã thay đổi tên Chương XI thành “Những quy định về TNHS của PNTM”. (2) Dự thảo bổ sung Điều 77 quy định chính sách hoàn toàn mới về áp dụng quy định của BLHS đối với PNTM và cá nhân phạm tội với danh nghĩa PNTM. Theo đó, việc PNTM  chịu TNHS không loại trừ TNHS của cá nhân và cá nhân được phân hóa xử lý theo hướng: (i) đối với người tổ chức thực hiện hành vi phạm tội được áp dụng không quá 1/2 mức hình phạt áp dụng đối với cá nhân phạm tội độc lập về cùng tội phạm; (ii) đối với người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, thì được áp dụng không quá 1/3 mức hình phạt áp dụng đối với cá nhân phạm tội độc lập về cùng tội phạm; (iii) cá nhân với danh nghĩa của PNTM phạm một số tội cụ thể, thì chịu TNHS như đối với cá nhân phạm tội độc lập về cùng tội phạm17. Bản Dự thảo ngày 09/10/2026 đã tiếp thu kiến nghị này của tác giả và đã xóa bỏ hoàn toàn quy định giảm nhẹ cứng nhắc (1/2, 1/3) tại Điều 77 Dự thảo ngày 22/9/2026. Thay vào đó, nguyên tắc xử lý cá nhân được chuyển sang khoản 2 Điều 84 theo Dự thảo ngày 09/10/2026, quy định Tòa án quyết định hình phạt dựa trên vai trò, mức độ lỗi, lợi ích thu được và chỉ cho phép phạt dưới mức thấp nhất của khung đối với người không thu lợi riêng, không giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu.

(3) Điều 79 Dự thảo được sửa đổi theo hướng mở rộng phạm vi chịu TNHS của PNTM đối với 57 tội danh18, tập trung vào một số lĩnh vực mà PNTM luôn được sử dụng như “bình phong” để phạm tội, như: mua bán người; sử dụng, quản lý lao động; kinh doanh, thương mại, tài chính, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, cạnh tranh; môi trường; mạng máy tính, mạng viễn thông; khủng bố… Để đồng bộ với Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt mới thông qua, Dự thảo BLHS (sửa đổi) đã bổ sung tội phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (Điều 290) và tội tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (Điều 291), đương nhiên, các tội này đều quy định TNHS đối với PNTM.

Thứ ba, về hình phạt đối với PNTM: (1) Mức phạt tiền tối thiểu đối với PNTM được sửa theo hướng, tăng từ 50.000.000 đồng lên 100.000.000 đồng (Điều 80). (2) Mở rộng hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong một hoặc một số lĩnh vực, ngành, nghề mà hành vi phạm tội với danh nghĩa của PNTM gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra (Điều 81). Dự thảo cũng mở rộng hình phạt cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, đồng thời, có thể áp dụng các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại (Điều 82). (3) Dự thảo đã bỏ hình phạt cấm huy động vốn (Điều 81 BLHS năm 2015) nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến khả năng thanh toán, khả năng phục hồi, nguồn lực để thực hiện bồi thường thiệt hại, duy trì hoạt động bình thường của pháp nhân, có thể dẫn đến pháp nhân bị phá sản19.

Thứ tư, về các khung hình phạt đối với PNTM, toàn bộ 57 tội danh mà PNTM phải chịu TNHS, đều được thiết kế cấu thành tương tự như quy định hiện hành. Theo đó, các khung hình phạt của PNTM ấn định dựa trên các dấu hiệu trong khung cấu thành cơ bản và các khung tăng nặng TNHS của cá nhân. Tuy nhiên, chính sách thay đổi lớn nhất có thể thấy đó là, định lượng giá trị tiền, tài sản làm căn cứ định tội, định khung hình phạt tăng gấp 02 lần, đồng thời, mức phạt tiền trong nhiều tội danh cũng được tăng gấp 02 lần, dẫn đến giá trị tuyệt đối khoản tiền phạt rất lớn. Ví dụ: mức phạt cao nhất đối với PNTM đối với tội buôn lậu (Điều 170) lên đến 50.000.000.000 đồng; tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 172), tội đầu cơ (Điều 178) lên đến 18.000.000.000 đồng… Đối với 23 tội danh được mở rộng mà PNTM phải chịu TNHS (gồm cả các tội mới), mức phạt tiền cũng được ấn định rất cao, kể các các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người hoặc xâm phạm trật tự công cộng. Ví dụ: tội mua bán người (Điều 132), tội mua bán người dưới 18 tuổi (Điều 133) mức phạt lên đến 10.000.000.000 đồng; tội vi phạm quy định về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa (Điều 190), mức phạt cao nhất lên đến 20.000.000.000 đồng… Ngoài mức phạt bằng giá trị tiền tuyệt đối, điểm hoàn toàn mới lần này là ở một số tội, mức phạt tiền được tính trên tỷ lệ doanh thu. Cụ thể: Điều 201 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh) quy định 2 khung hình phạt đối với PNTM: (i) phạt tiền từ trên 10% đến dưới 15% tổng doanh thu của PNTM chịu TNHS trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm hành vi phạm tội chấm dứt hoặc bị phát hiện; nếu PNTM chịu TNHS không phát sinh doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm hành vi phạm tội chấm dứt hoặc bị phát hiện thì bị phạt tiền từ trên 2.000.000.000 đồng đến dưới 20.000.000.000 đồng (điểm a khoản 4); (ii) phạt tiền từ 15% đến 20% tổng doanh thu của PNTM chịu TNHS trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm hành vi phạm tội chấm dứt hoặc bị phát hiện; nếu PNTM chịu TNHS chưa phát sinh doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm hành vi phạm tội chấm dứt hoặc bị phát hiện thì bị phạt tiền từ trên 20.000.000.000 đồng đến dưới 50.000.000.000 đồng (điểm b khoản 4). Với phương án quy định này, dự thảo BLHS (sửa đổi) có tới 13 khung hình phạt, trong đó, có mức hình phạt đến 20.000.000.000 đồng; có 8 khung hình phạt đến 30.000.000.000 đồng; có 3 khung hình phạt lên đến 40.000.000.000 đồng và 1 khung hình phạt lên đến 50.000.000.000 đồng. 

3. Một số đề xuất

Qua phân tích Dự thảo BLHS (sửa đổi) có thể thấy, nội dung sửa đổi cơ bản nhất liên quan đến PNTM thể hiện ở 3 góc độ: (i) thay đổi vai trò chủ thể chịu TNHS của PNTM; (ii) mở rộng phạm vi chịu TNHS của PNTM; (iii) sửa đổi hình phạt áp dụng đối với PNTM. Những thay đổi này sẽ tác động rất lớn trong tổng thể chính sách hình sự, tiếp tục làm thay đổi nền tảng lý luận về tội phạm, TNHS và đặc biệt, sẽ tạo ra thách thức rất lớn, khi tiếp tục phải đổi mới quy trình tố tụng hình sự. Sự thay đổi cốt lõi nhất chính là việc sửa khái niệm tội phạm, làm thay đổi vai trò chủ thể chịu TNHS. Tác giả tán thành phương án sửa đổi Điều 8 về khái niệm tội phạm như Dự thảo BLHS (sửa đổi). Theo đó, PNTM không còn xuất hiện trong khái niệm tội phạm và không còn là chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. PNTM là chủ thể chịu TNHS, đối với hành vi phạm tội của cá nhân (khi có đủ các điều kiện do BLHS quy định). Như vậy, về nguyên lý, đây là sự thay đổi cơ bản, khi chúng ta sẽ chuyển từ mô hình đồng nhất trách nhiệm (Identification Liability) sang mô hình trách nhiệm gián tiếp (Vicarious Liability). Tác giả cho rằng, hướng sửa đổi này sẽ khắc phục được các bất cập như đã phân tích, tuy nhiên, phương án trên đòi hỏi phải rà soát, sửa đổi tổng thể các quy định có liên quan đến PNTM trong BLHS để bảo đảm tính đồng bộ. Từ những vấn đề đặt ra nêu trên, tác giả đề xuất một số quan điểm sau:

 Thứ nhất, về mối quan hệ TNHS giữa cá nhân và PNTM và chính sách xử lý đối với cá nhân phạm tội nhân danh PNTM (Điều 77), tác giả cho rằng, cần bỏ toàn bộ khoản 2 Điều 77, vì các lý do dưới đây:

Một là, quy định “Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân” sẽ tạo ra mâu thuẫn, chồng chéo với các quy định về xác định TNHS của PNTM. Về nguyên tắc, PNTM chỉ phải chịu TNHS đối với hành vi phạm tội do cá nhân thực hiện (điểm a khoản 2 Điều 3 Dự thảo), điều này đồng nghĩa với việc, phải xem xét hành vi phạm tội của cá nhân trước thì mới có cơ sở để xác định TNHS của PNTM. Như vậy, sẽ không có trường hợp xem xét độc lập TNHS của PNTM, nên không thể quy chiếu “ngược” TNHS của cá nhân theo TNHS của PNTM như Dự thảo.

Hai là, về chính sách xử lý, quy định 2 chủ thể “người tổ chức thực hiện” và “người trực tiếp thực hiện” hành vi vi phạm tại khoản 2 Điều 77 là không phù hợp với quy định về đồng phạm. Hơn nữa, việc cho các chủ thể trên được áp dụng không quá 1/2 và 1/3 mức hình phạt áp dụng đối với cá nhân phạm tội độc lập về cùng tội phạm, dường như đã đi ngược với nguyên tắc “nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” (khoản 1 Điều 3 Dự thảo)20. Quy định này có thể dẫn đến nguy cơ, cá nhân sử dụng PNTM làm “bình phong” để đạt được mục đích phạm tội, mà vẫn được giảm nhẹ sự trừng phạt của pháp luật. Việc phân biệt 18/57 tội mà cá nhân với danh nghĩa của PNTM phạm tội, sẽ phải chịu TNHS như đối với cá nhân phạm tội độc lập, mà không căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả thiệt hại và yếu tố lỗi,… sẽ không bảo đảm yêu cầu phân hóa, cũng như tính công bằng khi xử lý tội phạm. Cập nhật theo Dự thảo ngày 09/10/2026, Dự thảo đã điều chỉnh rất hợp lý khi đã bỏ toàn bộ quy định tại Điều 77 (của Dự thảo ngày 22/9/2026) và quy định tại khoản 2 Điều 84 khi không cho phép giảm án tùy tiện đối với kẻ chủ mưu, cầm đầu, qua đó khắc phục được nguy cơ cá nhân dùng pháp nhân làm "bình phong" để trốn tránh sự trừng phạt.

Thứ hai, về việc tiếp tục mở rộng TNHS của PNTM. Đây là vấn đề gây quan ngại lớn nhất trong lần sửa đổi này. Nhiều ý kiến cho rằng, điều này có thể tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế - xã hội, ảnh hưởng tới môi trường đầu tư, kinh doanh, nhất là trong bối cảnh Đảng, Nhà nước đang coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số21. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, định hướng sửa đổi nói trên, chính là biện pháp phòng ngừa, xử lý hiệu quả nhất, tạo cơ chế cạnh tranh bình đẳng, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, minh bạch, phù hợp với yêu cầu phòng, chống tội phạm trong giai đoạn mới. Đây cũng là xu hướng chung của hệ thống pháp luật hình sự trên thế giới. Theo cách tiếp cận đó, nên cân nhắc xem xét mở rộng thêm TNHS của PNTM đối với các tội mà hành vi phạm tội của cá nhân thường có liên quan mật thiết đến pháp nhân. Ví dụ: tội vi phạm quy định về cung ứng điện (Điều 182); tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 287); tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 295); tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 296); tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ (Điều 297)…

Thứ ba, về hình phạt đối với PNTM, việc bỏ hình phạt bổ sung “cấm huy động vốn” đối với PNTM phạm tội là cần thiết, đồng thời, việc giảm các hình phạt bổ sung cũng phù hợp với định hướng quy định PNTM chỉ là chủ thể chịu TNHS. Tuy nhiên, quan điểm tác giả là, việc tăng mạnh mức tiền phạt gấp 02 lần và một số trường hợp mức phạt tiền được tính theo tỷ lệ doanh thu từ 10% đến 20% là phương án cần được cân nhắc kỹ, bởi đây mới chính là quy định tác động tiêu cực và khó có tính khả thi trong thực tiễn. Với việc không coi PNTM là chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, thì cần thay đổi quan điểm về phân hóa xử lý giữa cá nhân và PNTM. Theo cách tiếp cận này, mức phạt tiền đối với PNTM nên cân nhắc ở mức độ vừa phải, bảo đảm cho PNTM chịu TNHS vẫn còn khả năng tồn tại. Điều này cũng giúp PNTM có thể thi hành được các biện pháp khắc phục hậu quả thiệt hại mà họ phải chịu trách nhiệm.

Thứ tư, vấn đề phức tạp nhất khi BLHS sửa đổi vai trò chịu TNHS của PNTM như đã nêu, sẽ dẫn tới yêu cầu thiết kế lại toàn bộ trình tự tố tụng hình sự, để bảo đảm đồng bộ giữa BLHS và BLTTHS. Điều này đòi hỏi phải thay đổi quan niệm tố tụng truyền thống, khi coi điều kiện bắt buộc phải là bị can, bị cáo, phải bị kết án, thì mới chịu TNHS và hình phạt. Với sự thay đổi về khái niệm tội phạm và các điều khoản khác trong dự thảo BLHS, tác giả cho rằng, trình tự tố tụng xem xét TNHS của PNTM cần sửa đổi những vấn đề cơ bản sau:

(1) Việc quy định riêng các thủ tục tố tụng đối với PNTM là cần thiết, tuy nhiên, không nên coi PNTM tham gia tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo, người bị buộc tội, mà cần bổ sung khái niệm phù hợp với chủ thể “chịu TNHS”.

(2) Về quá trình xem xét TNHS của PNTM, trường hợp một người bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về các tội mà PNTM có thể phải chịu TNHS quy định tại Điều 79 của Dự thảo BLHS (sửa đổi) thì quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, phải xem xét hành vi phạm tội của cá nhân đó có dẫn tới TNHS của PNTM liên quan hay không.

(3) Việc xác định TNHS của PNTM phải có đủ 2 yếu tố: (i) Làm rõ có hành vi phạm tội xảy ra hay không? Thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; các yếu tố về lỗi? Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS và tình tiết khác liên quan; nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Những vấn đề phải chứng minh nói trên phải tập trung vào cá nhân phạm tội, mà không nên đánh giá riêng đối PNTM như quy định tại Điều 441 BLTTHS hiện hành. (ii) Có đủ các điều kiện quy định tại Điều 78 Dự thảo BLHS (sửa đổi), gồm: hành vi phạm tội của cá nhân được thực hiện có nhân danh PNTM hay không? Hành vi phạm tội của cá nhân được thực hiện vì lợi ích của PNTM hay không? Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của PNTM hay không? 

Kết luận

Dự thảo BLHS (sửa đổi) dự kiến sẽ được trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI (tháng 10/2026). Đây sẽ là lần sửa đổi căn bản lần thứ ba đối với BLHS, phạm vi và chính sách sửa đổi sẽ tác động rất lớn đến chính sách hình sự của Nhà nước ta. Nội dung sửa đổi lớn nhất liên quan đến PNTM thể hiện ở 3 góc độ: (i) thay đổi vai trò chủ thể chịu TNHS của PNTM, (ii) mở rộng phạm vi chịu TNHS của PNTM, không chỉ các tội phạm về kinh tế mà cả ở những tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm con người; các tội xâm phạm an toàn công cộng, (iii) sửa đổi theo hướng nghiêm khắc hơn các hình phạt áp dụng đối với PNTM, bao gồm hình phạt tiền và các hình phạt dẫn tới việc dừng hoạt động của PNTM. Bên cạnh đó, hình phạt “cấm huy động vốn” cũng sẽ được cân nhắc bãi bỏ. Những thay đổi này, sẽ tiếp tục làm thay đổi nền tảng lý luận về tội phạm, về TNHS và hình phạt. Bên cạnh những tác động đến kinh tế - xã hội, đến hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, phương án sửa đổi cũng đòi hỏi phải sửa đổi căn bản BLTTHS. Trong đó, cần sửa đổi quy định về tư cách tham gia tố tụng của PNTM và trình tự, thủ tục trong quá trình tố tụng liên quan đến việc xem xét TNHS của PNTM./. 

TS. NGUYỄN CÔNG LONG - Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội

2 Báo cáo số 728/BC-CP ngày 23/9/2026 của Chính phủ.

3 Phan Thị Nhật Tài & Trịnh Tuấn Anh, Trách nhiệm hình sự của pháp nhân dưới góc độ luật học so sánh, https://danchuphapluat.vn/trach-nhiem-hinh-su-cua-phap-nhan-duoi-goc-do-luat-hoc-so-sanh-3845.html, truy cập ngày 23/9/2026.

4 Hoàng Chí Kiên, Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân tại một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Kiểm sát, số 18/2023, https://kiemsat.vn/quy-dinh-ve-trach-nhiem-hinh-su-cua-phap-nhan-tai-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-va-kinh-nghiem-cho-viet-nam-68802.html, truy cập ngày 23/9/2026.

5 Trịnh Quốc Toản, Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 29, 2013, tr.142-150.

6 Hoàng Chí Kiên, tlđd (4), truy cập ngày 23/9/2026.

7 Hoàng Chí Kiên, tlđd (4), truy cập ngày 23/9/2026.

8 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân dưới góc độ luật học so sánh, https://lsvn.vn/trach-nhiem-hinh-su-cua-phap-nhan-duoi-goc-do-luat-hoc-so-sanh-a25466.html, truy cập ngày 23/9/2026.

9 Phan Thị Nhật Tài & Trịnh Tuấn Anh, tlđd (3), truy cập ngày 23/9/2026. 

10 Gồm: Điều 188. Tội buôn lậu; Điều 189. Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; Điều 190. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm; Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; Điều 192. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Điều 193. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; Điều 194. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Điều 195. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi; Điều 196. Tội đầu cơ; Điều 200. Tội trốn thuế; Điều 203. Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước; Điều 209. Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán; Điều 210. Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán; Điều 211. Tội thao túng thị trường chứng khoán; Điều 213. Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm; Điều 216. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; Điều 217. Tội vi phạm quy định về cạnh tranh; Điều 225. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan; Điều 226. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; Điều 227. Tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; Điều 232. Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản; Điều 234. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã; Điều 235. Tội gây ô nhiễm môi trường; Điều 237. Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường; Điều 238. Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông; Điều 239. Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam; Điều 242. Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản; Điều 243. Tội hủy hoại rừng; Điều 244. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; Điều 245. Tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên; Điều 246. Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại.

11 Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018.

12 Các hình phạt cụ thể gồm: phạt tiền (Điều 80); đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (Điều 81). Hình phạt bổ sung bao gồm: cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định (Điều 82); ngoài ra còn có thể bị áp dụng biện pháp tư pháp (Điều 83).

13 Báo cáo số 1208/BC-BCA ngày 10/6/2026 của Bộ Công an về tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự.

14 Ngô Huy Cương, Chế định pháp nhân nhìn từ cấu trúc bên trong của nó, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9 (488), tháng 5/2024, tr.10.

15 Ví dụ: Điều 174. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Điều 175. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm; Điều 176. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc…

16 Gồm: 1. Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; 2. Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; 3. Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; 4. Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.

17 Gồm các tội quy định tại các điều 132, 133, 145, 172, 173, 175, 176, 220, 221, 234, 236, 237, 239, 288, 289, 290, 291 và 316.

18 Gồm: Điều 132.Tội mua bán người; Điều 133. Tội mua bán người dưới 18 tuổi; Điều 145. Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật; Điều 157. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Điều 158. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Điều 170. Tội buôn lậu; Điều 171. Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; Điều 172. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm; Điều 173. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; Điều 174. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Điều 175. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm; Điều 176, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc; Điều 177. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi; Điều 178. Tội đầu cơ; Điều 179. Tội quảng cáo gian dối; Điều 180. Tội lừa dối khách hàng; Điều 181. Tội vi phạm quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Điều 183. Tội trốn thuế; Điều 186. Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước; Điều 187. Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước; Điều 190. Tội vi phạm quy định về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa; Điều 193. Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán; Điều 194. Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán; Điều 195. Tội thao túng thị trường chứng khoán; Điều 197. Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm; Điều 198. Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; Điều 200. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; Điều 201. Tội vi phạm quy định về cạnh tranh; Điều 202.Tội kinh doanh theo phương thức đa cấp trái phép; Điều 210. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với quy mô thương mại; Điều 211. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với quy mô thương mại; Điều 212. Tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; Điều 217. Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản; Điều 219. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã; Điều 220.Tội gây ô nhiễm môi trường; Điều 221. Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại; Điều 222. Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường; Điều 223. Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông; Điều 224. Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam; Điều 227. Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản; Điều 229.Tội hủy hoại rừng; Điều 230. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; Điều 231. Tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn; Điều 232. Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại; Điều 234. Tội sản xuất trái phép chất ma túy; Điều 236. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy; Điều 237. Tội mua bán trái phép chất ma túy; Điều 239. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy; Điều 280. Tội xâm phạm dữ liệu cá nhân; Điều 281. Tội cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân; Điều 284. Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người; Điều 285. Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi; Điều 288. Tội khủng bố; Điều 289. Tội tài trợ khủng bố; Điều 290. Tội phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; Điều 291. Tội tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; Điều 316. Tội rửa tiền.

19 Tlđd (1).

20 Trong Dự thảo BLHS (sửa đổi), có tới 21 tội có quy định tình tiết “Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức” là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt.

21 Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

Tài liệu tham khảo

1. Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) ngày 22/9/2026 và ngày 09/10/2026.

2. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

3. Tờ trình số 516/TTr-CP ngày 09/8/2026 của Chính phủ về dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi).

4. Phan Thị Nhật Tài & Trịnh Tuấn Anh, Trách nhiệm hình sự của pháp nhân dưới góc độ luật học so sánh, https://danchuphapluat.vn/trach-nhiem-hinh-su-cua-phap-nhan-duoi-goc-do-luat-hoc-so-sanh-3845.html, truy cập ngày 23/9/2026.

5. Hoàng Chí Kiên, Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân tại một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Kiểm sát, số 18/2023, https://kiemsat.vn/quy-dinh-ve-trach-nhiem-hinh-su-cua-phap-nhan-tai-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-va-kinh-nghiem-cho-viet-nam-68802.html, truy cập ngày 23/9/2026.

6. Trịnh Quốc Toản, Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 29, 2013.

7. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân dưới góc độ luật học so sánh, https://lsvn.vn/trach-nhiem-hinh-su-cua-phap-nhan-duoi-goc-do-luat-hoc-so-sanh-a25466.html, truy cập ngày 23/9/2026.

8. Báo cáo số 1208/BC-BCA ngày 10/6/2026 của Bộ Công an về tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự.

9. Ngô Huy Cương, Chế định pháp nhân nhìn từ cấu trúc bên trong của nó, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9 (488), tháng 5/2024.

10. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân

11. Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).